|
Tự chữa bệnh bằng tĩnh tọa Châu thiên pháp
Lương y Vơ Hà
Nhiều phương pháp luyện tập khí công đă
phối hợp khai thông kinh lạc có ư thức với tĩnh tọa vô thức.
Những nhà khí công cổ đại cho rằng trong điều kiện nhập tĩnh vô
thức, con người và vũ trụ sẽ tiến đến sự ḥa hợp. Khi "Thiên
Nhân hợp nhất", nội khí và trường khí năng lượng bên ngoài sẽ
được giao ḥa và hệ thống kinh lạc trong cơ thể sẽ tự động vận
hành khế hợp nhất cho yêu cầu khử trược lưu thanh, diên niên ích
thọ. Tĩnh tọa châu thiên pháp là một phương pháp khí công mang
tính tổng hợp cao qua phối hơp giữa ngồi thiền với việc khai
thông Nhâm Đốc, hai kinh mạch lớn nhất và là hai biểu tượng quan
trọng nhất của hai thành tố Aâm Dương trong cơ thể.
Ư nghĩa dưỡng sinh và chữa bệnh của ṿng Tiểu
Châu thiên
Ṿng Tiểu Châu thiên bao gồm mạch Nhâm và mạch Đốc. Mạch Nhâm ở
phía trước thân người, dưới da, nằm trên đường dọc giữa cơ thể,
từ huyệt Hội âm phía dưới bộ phận sinh dục, chạy lên Đan điền,
Đản trung, Thiên đột và kết thúc ở huyệt Thừa tương ở chỗ lơm
dưới môi dưới. Mạch Đốc ở phía sau cơ thể, bắt đầu từ huyệt
Trường cường ở đỉnh xương cùng, chạy dọc theo cột sống đi lên
Mệnh môn, Chí Dương, Đại chùy, ṿng lên Bách hội, Thần đ́nh,
Nhân trung và chấm dứt ở huyệt Ngân giao gần nướu răng trên.
Y học truyền thống và khí công cổ đại đều cho
rằng mạch Đốc là chủ quản của các kinh Dương và mạch Nhâm là bể
chứa của các kinh Aâm. Theo quan điểm chỉnh thể của y học phương
Đông, một tạng hoặc một phủ khi phát sinh bệnh biến sẽ có biểu
hiện trên đường tuần hành của kinh lạc đi qua nó và cả những
điểm phản xạ tương ứng trên hai kinh chính là Nhâm và Đốc. Ngược
lại, ta có thể thông qua những huyệt vị trên kinh lạc tương ứng
và chung nhất là qua hai mạch Nhâm Đốc để điều chỉnh những rối
loạn bệnh lư ở toàn thân. Nói cách khác, nếu hai mạch Nhâm Đốc
thông th́ trăm mạch đều thông, các tạng phủ sẽ hoạt động điều
ḥa và cơ thể sẽ khỏe mạnh.
Việc công phu ṿng Tiểu Châu thiên c̣n có một
ư nghĩa quan trọng khác. Đó là việc làm cân bằng Aâm Dương. Đông
y cho rằng bệnh tật xảy ra là do sự chênh lệch thái quá giữa hai
yếu tố Aâm và Dương trong cơ thể. Do đó nếu có thể làm cho hai
bể khí Aâm và Dương, tức mạch Nhâm và mạch Đốc có thể thông nhau
và giao hóan nhau, luân chuyển tuần ḥan thành một Tiểu Châu
thiên th́ con người sẽ khó xảy ra bệnh tật. Trên thực tế, việc
luyện tập ṿng Tiểu Châu thiên có tác dụng tự chữa bệnh, gia
tăng nội khí, tăng cường sức khỏe. Ngoài ra, tập khí công c̣n
giúp con người dễ thích ứng với môi trường, hoàn cảnh, ḥa hợp
với cuộc sống, tự tin và yêu đời hơn.
Sự tương quan giữa hơi thở, xúc cảm tâm lư và
ṿng nội tức
Từ hàng ngàn năm trước, y học cổ đă ghi nhận
con người và vũ trụ thăng giáng, giao ḥa thông qua hô hấp: "hô
tiếp thiên căn, hấp tiếp địa khí". Hơi thở không chỉ có
tác dụng giúp cơ thể tiếp nhận dưỡng khí và đào thải thán khí
qua đường mũi mà c̣n kích hoạt để tạo ra sự trao đổi một loại
năng lượng có công năng cao hơn mà những nhà khí công Trung hoa
gọi chung là khí, thiên khí hoặc địa khí;
những nhà Yogi Aán độ gọi là Prana. Sự
trao đổi có thể được thực hành khắp bề mặt của cơ thể, đặc biệt
là thông qua một số huyệt vị quan trọng trên hai mạch Nhâm Đốc ở
vùng xương cùng và vùng đỉnh đầu. Sự trao đổi này diễn ra khác
nhau giữa một người b́nh thường và một người đă tập luyện khí
công. Ở mỗi người, sự trao đổi này cũng luôn thay đổi do bị chi
phối bởi nhịp thở và điều kiện tâm lư. Chẳng hạn khi ta quá tức
giận th́ nhịp thở sẽ gấp gáp, kinh khí sẽ nghịch chuyển và rối
loạn. Khoa học ngày nay cũng đă xác nhận rằng ở những người bị
căng thẳng thần kinh, nếu điều ḥa được nhịp thở sẽ điều ḥa
được thần kinh giao cảm th́ tâm lư sẽ được ổn định và hoạt động
nội tạng, nội tiết cũng được cải thiện. Các đạo gia thời cổ c̣n
tiến xa hơn khi chiêm nghiệm và quan sát hoạt động khí hóa của
những thai nhi cũng như của các đạo sĩ và các nhà khí công ở
t́nh trạng nhập tĩnh sâu. Khi cảm xúc không
c̣n, niệm tưởng đă dứt th́ hơi thở cũng êm nhẹ như có như
không. Trong điều kiện này, sự trao đổi chất và tiêu hao năng
lượng trong cơ thể sẽ ở mức tối thiểu nhưng sự ḥa hợp giữa nội
khí và trường năng lực ở bên ngoài sẽ ở mức tối đa, các kinh lạc
sẽ tự khai thông và ṿng Tiểu Châu thiên tự khắc phát động
giống như đă từng xảy ra lúc bào thai c̣n trong bụng mẹ, khi mà
con người – tức thai nhi – thuần phát tự nhiên, không hô không
hấp, chỉ có một luồng Châu thiên triền chuyển không ngừng. Do sự
tương đồng này, ṿng Tiểu Châu thiên c̣n được gọi là ṿng
thai tức, chơn tức hay nội tức.
Từ những quan sát trên, những đạo gia thời cổ đă khám phá ra quy
luật "phàm tức đ́nh, chơn tức tự phát động." Từ
điều này ta có thể hiểu tại sao những nhà Yogi Aán độ có thể nằm
trong quan tài được chôn xuống đất nhiều ngày, không ăn, không
thở mà vẫn có thể sống được. Cũng v́ lư do này, luyện khí công
thường kết hợp với ngồi thiền để vươn tới nội tức.
Phương pháp tập luyện
Để tiện thực hành, trong phạm vi bài này, khi đề cập đến
hít vào nên hiểu là hít thiên khí hay Prana
vào từ huyệt Thần đ́nh ở chân tóc hoặc Bách hội ở đỉnh đầu.
Chuẩn bị:
T́m một nơi yên tĩnh thoáng mát. Mặc quần
áo rộng răi. Ngồi trên ghế, chân buông thỏng chạm mặt đất
hoặc ngồi xếp bằng kiểu bán già hoặc kiết già. Miệng và mắt
khép hờ, lưng thẳng, vai hơi thu lại, buông lỏng phần bụng,
cằm hơi đưa vào, đầu lưỡi chạm nướu răng trên, hai bàn tay
úp trên hai đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, hai đầu
ngón cái chạm nhau, miễn sau thấy thoải mái, dễ giăn mềm cơ
bắp
Khai thông mạch Nhâm:
Hít vào từ huyệt
Thần đ́nh. Khi hít vào hăy nghĩ rằng ta đang hít một luồng
thiên khí từ Thần đ́nh chạy dọc theo đường
giữa dưới da, trước mặt và trước ngực dần xuống Đan điền.
Đan điền là một huyệt vị ở vùng dưới rốn, cách rốn khoảng
3cm. Ngưng thở một chút để tụ khí tại Đan
điền. Thời gian ngưng thở khoảng từ vài tiếng đếm đến mười
tiếng đếm tùy theo khả năng mỗi người. Trong thời gian ngưng
thở vẫn tập trung sức chú ư tại Đan điền. Thở ra
từ từ, chậm, nhẹ và đều. Trong khi thở ra nên tự ám thị chân
khí phát sinh tại Đan điền lan tỏa ra toàn thân và khắp
tay chân, xua tan tất cả trược khí. Trược khí, sự căng
thẳng, mệt mơi đang theo hơi thở thoát hết ra ngoài. Đến
đây là xong một chu kỳ thở. Tiếp tục tập trung tư tưởng tại
huyệt Thần đ́nh để hít vào cho chu kỳ thở tiếp theo. Chỉ cần
thực hành từ 7 đến 9 lần. Thời gian đầu, một số người chưa
quen với ư nghĩ "lan tỏa ra toàn thân" th́ chỉ cần
thở ra từ từ, chậm, nhẹ và đều khi đến Đan điền là đủ. Hơi
thở cần tự nhiên, không thô, không khựng nên chỉ cần thở
b́nh thường. Không cần hít vào sâu, cũng không cần nín hơi
lâu để dễ tạo được cảm giác thư giăn. Cách thở này không
những giúp khai thông mạch Nhâm, sinh nội khí ở Đan điền,
tạo nguồn lực khai thông mạch Đốc mà c̣n là phương pháp ngắn
nhất, đơn giản nhất để giải toả "stress".
Những nghiên cứu về hiệu ứng "stress" của hai bác sĩ
H.S. Liddell và A.V. Moore đă đưa đến kết luận rằng nếu
những cảm xúc khó chịu có điều kiện ngắt khoảng, tức không
xảy ra liên tục dù chỉ trong giây lát th́ những cảm xúc này
sẽ không dẫn đến bệnh tật. Do đó một vài hơi thở thỉnh
thoảng xen kẽ trong thời gian làm việc, sẽ không tốn kém
thời gian nhưng có thể giúp ta giải tỏa "stress", duy
tŕ được cân bằng của hệ giao cảm trước những áp lực và căng
thẳng trong cuộc sống công nghiệp.
Khai thông mạch Đốc, nối ṿng Tiểu Châu
thiên:
Sau khoảng 7 đến 9 hơi thở theo mạch Nhâm
th́ bắt đầu tập nguyên ṿng Tiểu Châu thiên. Hít vào
từ Thần đ́nh, theo mạch Nhâm xuống Đan điền.
Ngưng thở nhưng không cần dừng lại một chút ở Đan
điền như cách thở trước mà dùng ư chầm chậm đưa khí sang
huyệt Trường cường ở xương cùng. Khi đến Trường cừơng nên
nhíu hậu môn lại để vừa kích hoạt khai mở hai huyệt Trường
cường và Hội âm ở hai bên của hậu môn, vừa tạo thế để chuyển
khí từ Trường cường theo mạch Đốc đi lên dọc cột sống lưng.
Khi ư và khí đến khoảng nữa sống lưng th́ bắt đầu thở ra.
Thở ra. Trong lúc thở ra, tiếp tục dùng hơi thở
đẩy khí đi lên mạch Đốc, qua Đại chùy, Bách hội, trở lại
Thần đ́nh là xong một ṿng Tiểu Châu thiên. Tiếp tục hít vào
từ Thần đ́nh xuống mạch Nhâm để vận hành ṿng Châu thiên kế
tiếp. Cuối cùng, trước khi chấm dứt giai đoạn này nên tập
trung ư tưởng tại Đan điền vài phút để tụ khí tại Đan điền.
Có thể tập khoảng 21 ṿng Châu thiên trước khi đến giai đoạn
tĩnh tọa.
Lưu ư:
Không cần phải hít vào hoặc thở ra trong
suốt quá tŕnh vận hành ṿng Châu thiên mà chỉ hít vào ở
phần đầu và ở mạch Nhâm, thở ra ở phần cuối của mạch Đốc.
Đoạn c̣n lại từ Đan điền sang Trường cường đến quá nữa lưng
là giai đoạn ngưng thở, dùng ư để chuyển khí để tránh hụt
hơi hoặc đuối hơi. Do đó không cần thở sâu, chỉ cần thở nhẹ,
thở b́nh thường cũng sẽ dễ dàng đi hết đường dài của ṿng
Châu thiên. Lâu dần, người tập chỉ cần dùng hơi thở thật nhẹ
và dùng ư lướt từ Thần đ́nh hoặc Bách hội, theo hơi thở đi
suốt ṿng Châu thiên mà không cần phân biệt hít vào, ngưng
thở hay thở ra. Càng thở nhẹ càng dễ chuyển khí và dễ tiến
vào nhập tĩnh.
Trên thực tế, có nhiều người sẽ "cảm
thấy" luồng khí bị gián đoạn hoặc không thẳng mà chạy ṿng
khi đi qua một điểm nào đó trên mạch Đốc. Điều này cho biết
ở vị trí đó và vùng tạng hoặc phủ tương ứng với nó đang có
một rối loạn bệnh lư nhất định. Cứ tiếp tục tập luyện, qua
thời gian kinh mạch sẽ được thông, đường khí sẽ thẳng.
Trường hợp này có thể tự hỗ trợ bằng cách dùng hai ngón tay
trỏ và giữa vuốt nhẹ dọc theo chiều đường kinh mỗi lần vận
khí đi qua điểm bế tắc đó.
Đừng ngại rằng bạn sẽ không thể tự ḿnh
khai thông được kinh mạch. "Đả thông Nhâm Đốc nhị
mạch" không quá huyền thoại như trong phim "chưởng".
Trước hết, gọi là kinh mạch nên vốn dĩ nó là những con đường
đă có sẵn. Nhâm Đốc lại là hai đại mạch nên có thể ví như
những con kênh lớn, những đại lộ chớ không phải những hẻm
nhỏ khó t́m, khó đi. Công việc chỉ là qua thời gian cần nạo
vét hoặc làm thông thoáng đường kênh mà thôi. Mặc khác, v́ "thần
đâu khí đó", ở đâu có ư tất ở đó có khí, nên tập
trung tư tưởng ở đâu hoặc dẫn đi đâu th́ chắc chắn khí sẽ ở
đó, sẽ theo đến nơi ta muốn. Chữa bệnh từ xa cũng không nằm
ngoài nguyên tắc này.
Ngồi thiền
Một trong những nguyên tắc căn bản của
việc luyện tập khí công là thuận tự nhiên. Việc luyện tập không
những phải thuận theo những quy luật vận hành chung của vũ trụ
và con người mà c̣n phải thuận theo sự phát triển tự nhiên cá
biệt cho từng cá nhân. Mỗi cá nhân có căn cơ và bẩm thụ khí chất
khác nhau nên sự phát triển khí hóa cũng không giống nhau. Do đó
Tĩnh toạ Châu thiên pháp ngoài việc khai thông Nhâm Đốc c̣n phối
hợp với tĩnh toạ để đưa cơ thể tiến dần đến vô thức hoặc nhập
tĩnh. Chính trong điều kiện nhập tĩnh hệ thần kinh trung ương sẽ
phục hồi khả năng tự điều chỉnh, tự hoàn thiện, tối ưu nhất cho
từng cá nhân và ṿng Tiểu Châu thiên, tức nội tức cũng sẽ tự
động luân chuyển với tốc độ và hiệu quả cao nhất. Từ đó nội khí
sung măn có thể lan tỏa tự nhiên sang các kinh mạch và tạng phủ
toàn thân thành ṿng Đại Châu thiên theo một tŕnh tự khế hợp
với sự phát triển sức khỏe và tâm linh riêng cho mỗi người.
Ngồi thiền là con đường đưa đến nhập tĩnh. Có
nhiều phương pháp thiền khác nhau, tựu trung vẫn là giúp người
tập tập trung sức chú ư về một điểm, một h́nh ảnh, một đề tài
hoặc một câu ám thị nhất định nhằm dẫn cơ thể tiến dần đến
t́nh trạng nhập tĩnh, khi tâm không c̣n bám víu vào bất cứ ư
niệm nào. Như vậy ngồi thoải mái, lặng lẽ, tập
trung sức chú ư vào hơi thở lên xuống ở mạch Nhâm hoặc
vào ra ở Đan điền, hoặc theo dơi luồng chân khí triền chuyển
trên ṿng Tiểu Châu thiên, hoặc chỉ tập trung quán chiếu Đan
điền,… đều là những phương pháp thiền. Điều quan trọng là nếu đă
chọn phương pháp nào để thiền th́ nên giữ măi phương pháp đó để
từ thế ngồi, thế tay, cách thở, lời ám thị, đường khí vận
luyện,… được bộ năo ghi nhận qua thời gian sẽ h́nh thành nên
những mă khóa, những cung phản xạ có điều kiện để
đưa người tập tiến nhanh vào trạng thái nhập tĩnh. Trong quá
tŕnh ngồi sẽ có những lúc tâm bị phân tán, các tạp niệm xen
vào. Điều này là b́nh thường. Chỉ cần tiếp tục phương pháp hoặc
tập trung vào đề tài là đủ. Lâu dần những tạp niệm sẽ thưa dần,
thời gian tập trung sẽ được dài hơn, hơi thở sẽ điều ḥa hơn,
chậm hơn, đến lúc không c̣n ư niệm và quên luôn cả hơi thở. Đây
là một quá tŕnh lâu dài. Tùy theo khí chất của mỗi người, mức
độ nhập tĩnh đạt được sẽ khác nhau. Tuy nhiên để tự chữa bệnh
bằng khí công tĩnh toạ, việc duy tŕ t́nh trạng bám víu vào đề
tài hoặc vào điểm tập trung một thời gian nhất định là đủ. Điều
quan trọng là nên tập đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai
lần, mỗi lần từ 15 phút trở lên. Nếu không thiền bằng cách quán
chiếu Đan điền th́ trước khi xă thiền cũng cần tập trung ư vài
phút tại Đan điền để tụ khí lại nới đây. Đan điền c̣n gọi là Khí
hải hoặc Khí huyệt, v́ là nơi ở của khí, nguồn gốc của sự sống.
Tụ khí về Đan điền để tránh t́nh trạng khí nghịch, khí trệ do
chân khí c̣n lưu đọng ở kinh lạc ở tạng phủ, vùng đầu hoặc vùng
ngực trong quá tŕnh luyện công.
Nếu thời gian ngồi thiền lâu, cần quan tâm
đến việc xă thiền để giúp khí huyết lưu thông b́nh thường trở
lại. Trước khi đứng dậy nên co duỗi tay chân, xoay người qua lại
nhiều lần. Xoay ở vùng eo, vùng cổ. Dùng cả hai tay vuốt nhẹ hai
bên sống mũi, từ đầu mũi đến tận chót cằm. Vuốt ấm hai vành tay.
Xoa nóng hai ḷng bàn tay rồi áp vào hai mắt. Dùng hai bàn tay
xoa bóp dọc theo hai chân từ đùi ra đến bàn chân. Xoa ấm hai
ḷng bàn chân. Cuối cùng áp ḷng bàn tay phải vào bụng dưới xoa
ṿng tṛn quanh rốn 36 ṿng, xong lại xoa 36 ṿng theo chiều
ngược lại.
Những hiệu ứng khi luyện công
Luyện tập khí công có thể mang đến những kết
quả chữa bệnh rất kỳ diệu. Tuy nhiên kết quả này không thể sinh
ra trong ngày một ngày hai mà phải thông qua một quá tŕnh cần
mẫn lâu dài. Tuần tự tiệm tiến là một nguyên tắc
cần tuân thủ trong khi luyện công. Thông thường, việc "đánh
thức" Đan điền, sinh nội khí có thể xảy ra từ vài ngày đến vài
tuần. Những hiệu quả tích cực đối với sức khỏe như giảm hoặc hết
bệnh, ăn ngon hơn, ngủ dễ hơn (nếu khó ngủ) hoặc ngủ sâu hơn,
tăng cân (hoặc giảm cân nếu trước đó béo ph́)… có thể thấy được
từ 3 đến 6 tháng. Những cảm nhận về khí cũng khác
nhau ở mỗi người. Những cảm nhận này có thể là cảm giác nóng ở
một huyệt vị hoặc cảm giác về luồng khí di chuyển theo đường
kinh, hoặc về màu sắc của khí… Có nhiều người không hề cảm nhận
được những dấu hiệu này dù sức khỏe được cải thiện và việc luyện
tập vẫn tiến bộ. Do đó không nên lo lắng, mong cầu. Ḷng tin và
quyết tâm tất sẽ đưa đến kết quả.
Quá tŕnh tập có thể xảy ra đau, tức, ngứa
ngáy, co giật do việc khai mở một sốâ huyệt vị trên đường kinh
hoặc công phá một tổ chức bệnh trước khi những bế tắc này được
thải trừ hết. Thông thường những phản ứng này sẽ tự chấm dứt sau
đó. Một số ít trường hợp luyện công xảy ra tức ngực, khó thở,
tim đập nhanh hoặc căng nặng ở đầu. Những trường hợp này thường
do hít vào sâu quá hoặc ngưng thở quá lâu. Cần điều chỉnh lại
hơi thở và tăng cường buông lỏng cơ thể trong quá tŕnh luyện
công.
Có một số người, nam hoặc nữ, sau một thời
gian luyện công th́ tính dục xung động, gia tăng cảm giác ham
muốn t́nh dục. Đây không phải là một hiệu ứng xấu mà là một dấu
hiệu của tập luyện có hiệu quả dẫn đến nội lực sung măn. Vấn đề
chỉ là điều tiết chuyện pḥng the và tận dụng nguồn nội lực ấy
để tái bổ sung cho cơ thể như thế nào. Để tái bổ sung, chỉ cần
ngồi yên tĩnh, lặng lẽ vận hành ṿng Tiểu Châu thiên cho đến khi
có cảm giác b́nh thường trở lại. Điều này sẽ khiến năng lực tính
dục thông qua Nhâm Đốc phân bố lại để nuôi dưỡng cơ thể. Đây là
điều mà các đạo gia gọi là luyện tinh hóa khí, luyện khí
hóa thần, chuyển năng lực tính dục theo mạch Đốc lên đầu
để phát triển trí năo và huy động những chức năng c̣n tiềm ẩn.
Trên thực tế, sau một thời gian luyện tập tốt Tỉnh toạ châu
thiên pháp, chỉ cần ngồi vào tư thế, nhập tỉnh hoặc lặng lẽ
quan sát vùng bụng dưới th́ việc "hoá khí" sẽ tự
động diễn ra và hoàn tất trong ṿng vài phút mà không cần phải
tác ư hay vận luyện ǵ. Ngoài ra người tập cũng có thể tập trung
tư tưởng tại Mệnh môn thay v́ Đan điền khỏang 10 phút trước mỗi
lần xả thiền. Mệnh môn là chỗ ở của chân Hỏa. Tập trung ư tại
Mệnh môn để dẫn Hỏa về đây sẽ giải tỏa được áp lực ở vùng sinh
dục hoặc Đan điền.
Nói đến Hỏa, không thể không đề cập đến
Trường cường. Trường cường là nơi xuất phát chân Hỏa, tương ứng
với luồng hỏa xà Kundalini của khí công Aán độ. Sự khai mở và
vận dụng hợp lư trung tâm lực này có thể mang lại một nguồn nội
lực to lớn cho việc chữa bệnh và dưỡng sinh. Ngược lại, nếu
không kiểm soát được, nguồn năng luợng này có thể gây tác hại.
Sự khai mở Trường cường phải tiến hành đồng thời với sự khai mở
hai huyệt Thần đ́nh và Bách hội và cả sự khai thông mạch Đốc.
Khai mở Thần đ́nh, Bách hội không những để thu nhận ngoại khí,
bổ sung cho chân khí mà c̣n để tạo một van an toàn để tiết bớt
chân Hỏa trong quá tŕnh vận hành Châu thiên qua vùng đầu. Việc
khai thông Nhâm Đốc là điều kiện để chân Hỏa ở Trường cường cũng
như nội khí sinh ra ở Đan điền có thể luân lưu tuần ḥan tạo ra
sự giao hóan, cân bằng giữa Aâm và Dương, giữa ngủ tạng và lục
phủ.
Thỉnh thoảng nếu có những biểu hiện dương Hỏa
quá vượng như ù tai, nhức đầu, nổi mụn, sưng nướu răng… do phong
nhiệt hoặc do sự phát tác của những ổ nhiễm khuẩn cũ th́ nên tạm
ngưng kích hoạt Trường cường. Trường hợp này, khi chuyển vận
Châu thiên đến Đan điền nên đưa thẳng từ Đan điền sang Mệnh môn
đi lên mạch Đốc mà không cần qua Trường cường.
Ngoài ra, sử dụng tư thế kiết già khi vận
hành Châu thiên hoặc ngồi thiền cũng là một biện pháp để cân
bằng với chân Hỏa. Ở tư thế này, xương mác của một
chân đă tạo một sức ép khá mạnh lên đúng vị trí của huyệt Tam
Aâm giao của chân c̣n lại. Như vậy trong suốt thời gian ngồi
kiết già, những đường kinh Aâm và huyệt Hội âm liên tục được
kích hoạt, có tác dụng tăng cường Aâm khí và tạo thêm một kênh
an toàn để trung ḥa với chân Hỏa và khí Dương ở mạch Đốc. |