|
|
Thạc sĩ
Nguyễn Đ́nh Nguyên (thứ 5, từ phải sang) cùng các nhà khoa
học trẻ quốc tế nhận giải thưởng của Hội thảo Khoa họcl iên
kết giữa Hiệp hội nghiên cứu bệnh lư về Xương và Khoáng chất
Quốc tế và châu Âu |
Ngày 29.06.2005, lần đầu tiên, một người Úc gốc Việt đă
nhận được giải thưởng cao nhất của Hội thảo Khoa học liên kết giữa Hiệp
hội nghiên cứu bệnh lư về Xương và Khoáng chất Quốc tế và châu Âu tổ
chức tại Geneva, Thụy Sĩ từ ngày 25 - 29.06.2005. Đây là giải thưởng
dành cho các nhà nghiên cứu trẻ (Young Investigator Award), và đề tài
”Đánh giá nguy cơ găy xương cho người cao niên trong quăng đời c̣n lại”
của anh đă được trao giải nhất.
Công tŕnh của anh được
chọn lọc từ 1.500 đề tài được chọn báo cáo tại Hội thảo, nhưng có một
điều ít ai biết rằng nhà khoa học trẻ ấy đă phải trải qua bao sóng gió
cuộc đời để đến được đây, trên vị trí tôn vinh những người hết ḷng v́
khoa học. Bảy tháng tuổi, di chứng của căn bệnh sởi quái ác khiến một
mắt anh bị hỏng. Với thị lực khiếm khuyết đeo đẳng bên ḿnh, anh đến
trường với bao khó khăn vất vả; ngồi ngay bàn đầu mà cứ phải chạy lên
chạy xuống nh́n bảng chép bài, lắm lúc anh muốn buông xuôi, phó mặc cho
số phận…Nhưng như cây non gặp hạn vẫn cứ vươn về phía mặt trời, khát
khao được sống, được làm việc cứ trỗi dậy trong tâm hồn người con vùng
cao nguyên Pleiku. Và anh lại đứng lên, bước tiếp.
Cổng trường Đại học Y đă
mở ra với anh nhưng rồi “mắt kém làm sao đủ tiêu chuẩn học ngành y? Thôi
hăy về t́m nghề khác mà học”! Phũ phàng thế sao? Không, không thể đầu
hàng dễ dàng như thế. Và ư chí, nghị lực cộng với cả …nước mắt của anh
đă làm những người thầy nghiêm khắc nhất cũng phải mềm ḷng. Anh lại
được đón nhận. Cuộc sống lại mở ra với những tia nắng hồng!
Thế nhưng ông trời h́nh
như rất thích thử ḷng người. Năm thứ 4 trường Y, thị lực của anh gần
như mất hẳn. Bỏ học ngang chừng, ra Hà Nội t́m cơ hội sáng mắt. Mổ rồi
nhưng thị lực vẫn c̣n yếu lắm, mọi vật cứ mù mờ, cứ nhạt nḥa như tương
lai của anh vậy. Thế là hết, là trở thành một người khuyết tật! Buồn
chán, nản ḷng anh nhờ người chở đến trường khiếm thị Hà Nội. Những bóng
người mờ ảo cắm cúi làm việc, cắm cúi học. “Ồ, th́ ra ḿnh vẫn c̣n may
mắn, hạnh phúc lắm. Các em bé ấy không nh́n thấy ǵ nhưng vẫn làm việc
thật giỏi, c̣n ḿnh, ḿnh đă được nh́n thấy cuộc đời trên 20 năm, ḿnh
lại được học tập, vậy tại sao ḿnh lại bó tay, lại buông xuôi chứ?” -
nhủ thầm với ḷng ḿnh như vậy để rồi sáng hôm sau năn nỉ bà mẹ nuôi chở
anh đến trường. Cứ như thế trong cả năm trời, với t́nh thương của cha mẹ
nuôi người Hà Nội, với sự giúp đỡ của bè bạn, anh vẫn tiếp tục đến
trường, nhờ bạn chép bài để tối về mở máy ghi âm nghe lại lời thầy
giảng, kê thước tập viết chữ thật thẳng. “Trời thật có mắt”, sau đó
thị lực dần phục hồi, và rồi anh giành luôn vị trí thủ khoa tốt nghiệp
trường Y Hà Nội năm 1992.
|
|
Thạc sĩ
Nguyễn Đ́nh Nguyên tại Khách sạn REX, TP.HCM |
“Có lẽ nhờ trời nuôi nên dần dần mắt tôi lấy lại được thị
lực, tuy chỉ c̣n khoảng 70% nhưng như thế là may mắn lắm rồi. Dù không
biết kéo dài được bao lâu th́ mù hẳn nhưng tôi nghĩ c̣n làm được điều ǵ
th́ cố gắng làm. Tôi nghĩ phải vui với cái ḿnh hiện có, v́ thế tôi vẫn
làm việc, khám chữa bệnh, vẫn đọc, viết, nghiên cứu với suy nghĩ hăy làm
khi c̣n có thể chứ chẳng nên ngồi đó để ṿ đầu bứt tai. Nếu sau 5 năm mà
mắt không c̣n thấy đường th́ ḿnh cũng đă làm được một số việc, c̣n hơn
là sau 5 năm nữa ḿnh chẳng làm được ǵ. Sống th́ phải hy vọng, chính v́
thế tôi lạc quan để tôi tồn tại, và cần phải có nghị lực để vươn lên!!”
- Anh cười
thật sảng khoái khi nghe tôi hỏi anh có bi quan không khi một ngày nào
đó anh sẽ không c̣n nh́n thấy ǵ nữa. Vâng, “lạc quan để tồn tại,
nghị lực để vươn lên”! Tôi vui với niềm tin vào cuộc sống của
anh, vui khi được biết anh, thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Đ́nh Nguyên, càng vui
hơn khi biết anh nhận được một giải thưởng khoa học lớn. Rất chân t́nh,
anh tâm sự với Người Viễn Xứ: “Thật ra đây cũng
là một sự t́nh cờ, v́ đây là một dự án nằm trong luận án tiến sĩ của tôi
với sự hướng dẫn của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn, một chuyên gia về
dịch tễ học và bệnh loăng xương”.
PV: Sự t́nh cờ? Nhưng đó
là một vinh dự lớn v́ chắc hẳn dự án của anh là đề tài khá mới mẻ và có
giá trị cao?
Thạc sĩ Nguyễn Đ́nh
Nguyên:
Đây là một sự khích lệ, v́ giải thưởng giành cho các nhà nghiên cứu trẻ.
Trẻ nghĩa là trẻ tuổi nghề, đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ hoặc là
trong 5 năm sau khi nghiên cứu sinh tốt nghiệp. Đề tài này là ”Đánh
giá nguy cơ găy xương cho người cao niên trong quăng đời c̣n lại”.
Ví dụ một người già th́ nguy cơ của họ là loăng xương và hậu quả lớn
nhất là găy. Găy xương là một vấn đề rất nghiêm trọng, không chỉ là vấn
đề chi phí mà c̣n là chất lượng cuộc sống bị giảm đi: tạo gánh nặng cho
gia đ́nh, cho xă hội. Vấn đề đặt ra là pḥng ngừa và điều trị như thế
nào.
Từ trước đến nay, trong
ngành điều trị loăng xương quốc tế cũng biết rằng vấn đề loăng xương và
găy xương liên quan đến tuổi tác, nghĩa là tuổi càng cao th́ nguy cơ găy
xương càng lớn. Thứ hai là liên quan đến người phụ nữ ở tuổi măn kinh
th́ xác xuất găy xương cao. Thứ ba là mật độ khoáng xương càng thấp th́
nguy cơ găy xương càng cao. Bên cạnh đó c̣n nhiều yếu tố khác thường gọi
là yếu tố nguy cơ. Nhưng đối với một số nhóm người mà mật độ khoáng
xương giảm đi chừng 0.12gr th́ khả năng găy xương tăng lên gấp 2 - 3 lần
so với người có mật độ khoáng xương thấp hơn mức độ đó. Nhưng cũng không
có nghĩa yếu tố này áp dụng trên một cá nhân cụ thể mà xác xuất này được
tính trên một quần thể lớn. Nhưng vấn đề đặt ra lại là cho một cá nhân
cụ thể. Chẳng hạn một bệnh nhân A, tuổi 60, có mật độ khoáng xương là
0.7g/cm2, người này lại đă từng bị găy xương trước đó, th́
bác sĩ cũng không thể đưa ra câu trả lời cho việc xác xuất người đó sẽ
bị găy xương lần hai trong quăng đời c̣n lại là bao nhiêu.
|
|
Thạc sĩ
Nguyên và Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn tại Hội thảo Khoa học |
Ư tưởng đó được cộng với lợi thế là GS Tuấn đang điều
hành một trong những nghiên cứu dịch tễ học về bệnh lư Loăng xương lớn
nhất thế giới là “Nghiên cứu Dịch tễ học về Loăng xương ở Dubbo”, một
tỉnh của Úc. Nghiên cứu này đă được tiến hành trong ṿng 15 năm rồi. Tất
cả những đối tượng từ 60 tuổi trở lên đều được mời tham gia vào đề tài
nghiên cứu này để được tiến hành các khám nghiệm liên quan đến xương.
Từ nghiên cứu này, sau
một năm th́ nhóm nghiên cứu cũng đă t́m ra câu trả lời. Thí dụ, với một
người phụ nữ trong độ tuổi 60 th́ trong ṿng 10 năm nữa, nguy cơ bị găy
xương do loăng xương ít nhất ở một vị trí là khoảng 30%. Quan trọng hơn
là từ đó có thể vạch chiến lược điều trị pḥng ngừa cho một quần thể
lớn, phải làm sao để giảm thiểu những gánh nặng về sau. Hy vọng từ kết
quả nghiên cứu này, chúng tôi có thể đưa ra được một phác đồ đánh giá
nguy cơ găy xương để bác sĩ áp dụng cụ thể cho từng cá nhân trong độ
tuổi có nguy cơ cao. Và trong chuyến đi Geneva lần này chúng tôi sẽ
thuyết tŕnh về đề tài đó.
Đây có phải là một hội
nghị về Loăng xương lớn nhất thế giới không, thưa thạc sĩ?
Là một trong hai hội
nghị lớn nhất, hội nghị Mỹ mở rộng và hội nghị Liên hiệp châu Âu - Quốc
tế. Đây là một hội thảo liên kết giữa châu Âu và quốc tế. Hội thảo này
được tổ chức định kỳ 2 năm 1 lần, quy tụ từ 2.000 - 3.000 khoa học gia
từ khắp nơi trên thế giới với khoảng 1.000 -1.500 công tŕnh nghiên cứu,
trong đó sẽ có một số công tŕnh được chọn để thuyết tŕnh trực tiếp tại
Hội thảo, các công tŕnh c̣n lại th́ thuyết tŕnh bằng poster (tức là
chỉ tŕnh bày trên bảng giấy khổ lớn, không phải thuyết tŕnh bằng
miệng). Có khoảng trên dưới 20 công tŕnh được trao giải trong mỗi kỳ
hội thảo quốc tế như vậy, tùy theo chất lượng công tŕnh nghiên cứu.
Công tŕnh của chúng tôi cũng có điều may mắn v́ đây là giải thưởng đầu
tiên mà hội nghị Liên hiệp châu Âu - Quốc tế trao cho một người Úc, mà
lại là người Úc gốc Việt trong lĩnh vực này.
Quả thật hơi lạ khi biết
rằng trước đây, lúc học ở trong nước, anh đă tốt nghiệp về Nhi khoa lâm
sàng. Tại sao giờ đây anh lại làm nghiên cứu sinh tiến sĩ và nhận giải
thưởng về bệnh Loăng xương?
Đúng vậy. Bản thân tôi
vốn có chuyên môn về nhi khoa lâm sàng chứ không phải chuyên về nghiên
cứu. Nhưng khi sang Úc du học, được tiếp cận với một lĩnh vực mới mà tôi
cũng cảm thấy yêu thích, lại có thêm Giáo sư Tuấn cầm cây bút chỉ đường,
Giáo sư là một người có thâm niên trong nghề, có uy tín trên trường quốc
tế, nhiệt t́nh với công việc, thường quan tâm, nâng đỡ lớp trẻ, đặc biệt
giáo sư lại là người Việt. Đó chính là may mắn của tôi chứ không phải
tôi tài giỏi ǵ đâu!
Nhưng với bằng thạc sĩ
về Nhi khoa, tại sao khi nhận được học bổng du học của Chính phủ Úc, anh
lại không tiếp tục làm nghiên cứu sinh tiến sĩ về ngành này? Phải chăng
anh thích được thử sức?
Nói đúng ra là tôi bị
“số phận đưa đẩy”. Bởi khi nộp hồ sơ du học, tôi đang chuẩn bị lấy bằng
thạc sĩ Nhi khoa ở Việt Nam, khi đó phía Úc lại không chấp nhận cho tôi
làm nghiên cứu sinh tiến sĩ v́ khi nộp hồ sơ tôi chưa có bằng thạc sĩ.
V́ thế khi sang Úc, tôi tiếp tục nghiên cứu để lấy bằng thạc sĩ thứ hai.
Khi đó tôi đă có một bằng thạc sĩ y học lâm sàng rồi nên tôi muốn chuyển
sang một đề tài mới. Và tôi đă chọn đề tài Nhi khoa cộng đồng làm đề tài
thạc sĩ của ḿnh. Trước đây tôi nghiên cứu về việc điều trị cho một bệnh
nhân cụ thể, c̣n giờ là chiến lược điều trị cho cộng đồng, theo nguyên
lư pḥng bệnh hơn chữa bệnh. Chẳng hạn như để pḥng ngừa bệnh trái rạ
trong cộng đồng th́ phải làm ǵ? Và khi lấy xong bằng thạc sĩ thứ hai
này rồi, tôi đến chào bà giáo sư hướng dẫn để về nước. Bà ngạc nhiên:
“Sao lại về?”. Tôi cười: tôi là người Việt Nam! Bà la lên: “Ồ, không
được! Không được!”. Đó là v́ tôi đă tham gia vào một dự án “Nghiên cứu
sự phát triển của trẻ em Việt Nam ở Úc”.
|
|
Th.S Nguyễn Đ́nh Nguyên với giải thưởng cao nhất của Hội
thảo Khoa học |
Đây là dự án của một bệnh viện Nhi khoa lớn nhất vùng Tây
Nam Sydney (Bệnh viện Nhi khoa Hoàng gia Alexandra) nơi tập trung 80%
người Việt ở tiểu bang New South Wales. Cộng đồng người Việt là cộng
đồng lớn thứ ba và là cộng đồng phát triển nhanh nhất tại Úc trong ṿng
20 năm qua. Để thực hiện dự án này cần có một người có tŕnh độ về nhi
khoa, hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa, đồng thời phải biết nghiên cứu
khoa học. Tôi may mắn là người hội đủ ba điều kiện này. Thế là tôi bắt
tay vào việc: thiết kế nghiên cứu, mời người tham gia, lấy mẫu xét
nghiệm, phân tích… Chỉ với 200 gia đ́nh thôi nhưng tôi phải thực hiện
gần 2.000 chuyến đi để đến từng nhà, khám từng cháu một, mỗi ngày đi từ
180 - 200 cây số, đi liên tục như thế trong ṿng 2 năm. Bản thân tôi
cùng bà giáo sư phải trực tiếp làm tất cả từ A đến Z.
Dự án này đă đưa ra một
kết luận: người Việt Nam thấp bé nhẹ cân không phải do di truyền mà là
do dinh dưỡng. Người Việt ở Úc phát triển cao hơn người Việt trong nước
và người Việt ở Pháp 10 năm trước. Như vậy nếu cải thiện được vấn đề
dinh dưỡng th́ tầm vóc người Việt sẽ phát triển. Điều thứ hai là vấn đề
thiếu chất sắt. Đây là việc không thể nh́n thấy ngay bây giờ mà 10 - 15
năm sau mới ảnh hưởng đến trí tuệ của trẻ. Người Việt vốn thích trẻ con
bụ bẫm nhưng đó là do trẻ được cung cấp đủ năng lượng chứ không ai để ư
đến việc trẻ thiếu khoáng chất và các yếu tố vi lượng. Thiếu chất sắt
gây ảnh hưởng đến sự phát triển trí năo của trẻ về sau.
Chính v́ thế khi tôi
chào để về nước, bà giáo không đồng ư v́ dự án này đang được tài trợ mấy
trăm ngàn USD, nếu tôi về th́ dự án sẽ bị ngưng trệ, sẽ phải đi t́m một
người có đủ những điều kiện trên. Bởi v́ người Việt rất ngại khi có
người lạ đến lấy thông tin của ḿnh, họ cũng không kiên tŕ để tham gia
từ đầu đến cuối một chương tŕnh nếu không có người đeo bám, điều này sẽ
gây trở ngại cho người làm nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, ở bên Úc sẽ
chẳng có ai chịu t́nh nguyện làm với một mức lương thấp mà lại đ̣i hỏi
nhiều kiến thức và kinh nghiệm, trong khi đó tôi tham gia dự án này
không hề nhận lương mà chỉ nhận học bổng.
Và anh đă ở lại để tiếp
tục làm nghiên cứu sinh tiến sĩ cho đề tài này? Ồ, nhưng sao bây giờ anh
lại nghiên cứu về loăng xương ở Viện nghiên cứu Y khoa Garvan nhỉ?
Rất lạ phải không? Cái
số tôi nó lận đận mà! Trước lời mời tiếp tục tham gia vào dự án này của
bà giáo sư, tôi đă bàn bạc lại với gia đ́nh. Rất may cả gia đ́nh ủng hộ:
ḿnh muốn học mà họ cho học tại sao lại bỏ lỡ cơ hội. Thế là tôi tiếp
tục ở lại để làm nghiên cứu sinh tiến sĩ với dự án này. Nhưng trong cái
may tôi lại gặp điều rủi. Số là dự án này được một công ty lớn tài trợ,
nhưng trong vụ khủng bố đánh sập Ṭa nhà Thương mại ở Mỹ ngày 11.09,
công ty này đă bị ảnh hưởng và họ đành cắt giảm chi phí tài trợ cho các
dự án. Và học phí là phần không ưu tiên, do đó tôi nằm trong số người bị
cắt nguồn tài trợ học phí 30.000USD/năm cho nghiên cứu sinh tiến sĩ. Mặc
dù họ đă giảm 2/3 học phí nhưng với 10.000USD/năm th́ tôi không có khả
năng để đóng. Thế là luận văn tiến sĩ đă thực hiện được 1 năm rưỡi đành
bỏ dở!
Trong t́nh cảnh dở khóc dở cười th́ tôi gặp Giáo sư Tuấn
và nhờ ông giúp đỡ. Nhưng Viện nghiên cứu Y khoa Garvan nơi GS Tuấn làm
việc lại chuyên nghiên cứu về bệnh loăng xương, v́ thế mặc dù được đánh
giá là có năng lực nhưng muốn làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Garvan th́
tôi phải chuyển đổi đề tài! Tôi nghĩ học là vô cùng, nghiên cứu về dịch
tễ học là một phạm vi rộng và cũng ứng dụng vào nhi khoa được. Vả lại,
Viện nghiên cứu Y khoa Garvan là một trong hai Viện nghiên cứu Y khoa
lớn nhất Úc châu và nằm trong “top ten” của thế giới; rất uy tín, không
dễ dàng được vào học. Nếu học được ở đây, tôi nghĩ ḿnh sẽ vững vàng hơn
sau khi ra trường, ḿnh sẽ tự tin hơn khi làm việc độc lập. Nhờ có giáo
sư Tuấn đỡ đầu nên sau một thời gian chật vật tôi cũng đă theo đuổi luận
án tiến sĩ được hai năm, đă có 3 bài báo đăng trên tạp chí khoa học quốc
tế và đang cố gắng để bảo vệ luận án sớm hơn thời gian quy định một năm.
Đề tài được giải thưởng của Hội nghị lần này là một phần chính trong
luận án tiến sĩ của tôi và nhóm nghiên cứu. Đó là một điều hết sức bất
ngờ, chúng tôi nh́n nhận được tầm quan trọng của nghiên cứu này nhưng
không nghĩ là được trao giải thưởng.
Quả thật câu chuyện về
cuộc đời anh rất lư thú. Nghe nói anh c̣n là người anh tinh thần của
một cậu thanh niên mắc bệnh xương thủy tinh?
Vâng. Có lần tôi đọc
được thông tin về cậu bé Vũ Ngọc Anh bị bệnh xương thủy tinh ở Hải
Pḥng. Tôi viết một bài về căn bệnh này đăng trên báo Tuổi Trẻ. Ngọc Anh
đă liên lạc với tôi. Từ đó chúng tôi thường xuyên liên lạc. Tôi đă kể
cho Ngọc Anh nghe về cuộc đời ḿnh, qua đó như để thổi vào em một niềm
lạc quan, để động viên, khích lệ em cố gắng vượt qua nghịch cảnh. Bởi ít
nhiều, em cũng c̣n đi học được và sẽ tốt nghiệp đại học. Em c̣n may mắn
hơn nhiều bạn bị thiểu năng trí tuệ. Tôi muốn chia sẻ với em một điều là
chúng ta c̣n làm được nhiều việc có ích và đừng để nó trôi qua khi chưa
muộn, chúng ta chỉ thất bại khi ḿnh không c̣n nghị lực mà thôi.
H́nh như anh viết báo
rất nhiều và thường gửi đăng trên các báo ở quê nhà.
Tôi viết như một sự đam
mê. Bài của tôi đăng trên báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động, Sức
khỏe và Đời Sống, báo Nhân Dân… và cả Người Viễn Xứ nữa. Năm 2003 -2004,
tôi đă có trên 100 bài dịch và viết về bệnh SARS đăng trên Sức khỏe và
Đời sống, Khoa học phổ thông, hoặc trong năm vừa rồi về bệnh Cúm gà. Tôi
muốn chia sẻ những kiến thức mà ḿnh biết với mong muốn đem lại điều có
ích cho cộng đồng.
Cảm ơn anh về cuộc tṛ
chuyện rất thú vị này. Chúc mừng anh đă nhận được giải thưởng cao nhất
của một hội nghị khoa học quốc tế! Chúc anh gặt hái nhiều thành công hơn
nữa!
Cám ơn chị, cũng nhân
đây tôi muốn qua báo, gửi lời chân thành biết ơn sâu sắc đến với những
người đă có ảnh hưởng lớn và luôn bên cạnh tôi, động viên tôi và giúp
tôi vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, đó là ba mẹ tôi, gia đ́nh bố
mẹ nuôi tôi (mà tôi coi như ba mẹ đẻ), vợ con tôi - những người hiện
đang trực tiếp hy sinh v́ sự nghiệp của tôi, và không quên cám ơn Giáo
sư Nguyễn Văn Tuấn, người thầy đang hướng dẫn tôi. Cũng nhân đây tôi xin
cám ơn báo Người Viễn Xứ đă cho tôi cơ hội trao đổi. Tôi cũng xin nhắc
lại, những ǵ tôi đă làm và đạt được không có ǵ to tát, chỉ là những
việc rất nhỏ và b́nh thường. Nhưng điều tôi muốn chuyển tải đến các bạn
trẻ là chúng ta có nhiều cơ hội để học hỏi, để tiếp cận với tri thức
hiện đại. Khó khăn và trở ngại lớn nhất là khó khăn trong chính bản thân
ḿnh, chỉ có ḿnh mới là sức cản lớn nhất cho ḿnh mà thôi. Nghị lực và
quyết tâm có thể biến những điều không thể thành có thể.
T.N |