|
Y đức và nghiên cứu y học
(Bản ngắn đă đăng trên
TTCT)
Nguyễn Văn
Tuấn
Mới đây, một cuộc điều tra trên 700 bác sĩ cho thấy cứ 3 bác sĩ
th́ có 2 người “thỉnh thoảng” có hành vi vi phạm y đức, có lẽ v́
phần lớn bác sĩ không có ư thức về y đức (chỉ có 9% bác sĩ nhận
thức về y đức đúng).
Đó là một kết quả rất đáng báo động.
Kết quả nghiên cứu trên cũng giải thích tại sao khi 2 năm
trước đây khi báo mạng
VnExpress mở diễn đàn về y đức, có hàng ngàn người viết thư
phản ảnh t́nh trạng xuống cấp về y đức ở nước ta. Trong một cuộc
thăm ḍ bạn đọc, gần 80% người trả lời cho biết hay bị nhân viên
y tế quát mắng.
Những tựa đề chua chát như
“Ăn mắng” khi vào bệnh
viện, Bác sĩ mắng
bệnh nhân như mắng con, Tôi rất sợ đi bệnh viện, v.v… liên
tục xuất hiện trên mặt báo.
Có người thậm chí c̣n đặt câu hỏi:
Nhà thương hay nhà ghét!
Nhưng những vấn đề y đức mà báo chí phản ảnh chủ yếu liên
quan đến việc điều trị và tiếp xúc giữa bệnh nhân và bác sĩ
trong bệnh viện.
C̣n một lĩnh vực y đức khác đă được các nước tiên tiến rất quan
tâm trong thời gian qua, nhưng h́nh như chưa được bàn thảo rộng
răi ở trong nước: đó là mối tương tác giữa bác sĩ và bệnh nhân
trong các công tŕnh nghiên cứu lâm sàng.
Những tiến bộ ngoạn mục của y học hiện đại, kể cả thuốc
mới, không thể có được nếu không có sự tham gia tự nguyện của
bệnh nhân trong các nghiên cứu lâm sàng.
Trong các nghiên cứu này, bệnh nhân thường được tuyển
chọn theo những tiêu chuẩn đă được định sẵn, và họ được theo dơi
một thời gian để đánh giá hiệu quả và an toàn của một thuật điều
trị. Trong quá
tŕnh theo dơi, bệnh nhân phải tốn nhiều th́ giờ đến tái khám,
hay trong nhiều trường hợp, phải cung cấp các mẫu máu, nước
tiểu, hay một mô nào đó trong cơ thể để bác sĩ làm xét nghiệm.
Nói cách khác, bệnh nhân tham gia vào những nghiên cứu
lâm sàng thường phải hi sinh thời gian và có khi thủ thuật
nghiên cứu mang tính xâm phạm.
Do đó, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu phải được xem
xét cẩn thận sao cho quyền lợi và lợi ích của bệnh nhân nhận ưu
tiên số một theo đúng tinh thần của nguyên tắc y khoa là “trước
hết, không làm hại” (primum non nocere).
Thế nhưng trong thực tế, có khá nhiều nghiên cứu lâm sàng
chưa làm đúng với tinh thần này.
Có rất nhiều nghiên cứu lâm sàng mà mục tiêu chẳng những
không rơ ràng, mà cũng chẳng đem lại lợi ích thiết thực ǵ cho
bệnh nhân và cho cộng đồng.
Chẳng hạn như một “sự cố” mới xảy ra ở Anh, các nhà
nghiên cứu hấp tấp áp dụng kết quả nghiên cứu từ chuột sang
người và hệ quả là hơn 5 bệnh nhân phải mang thương tật suốt
đời.
Ở Việt
Nam, rải rác đó đây chúng ta
đọc hay nghe đến những “thành công bước đầu” trong việc ghép tế
bào gốc vùng ŕa giác mạc hoặc tế bào gốc cuống rốn cho bệnh
nhân hỏng giác mạc. Tuy nhiên, rất khó mà đánh giá những thành
công này như thế nào, v́ không có chi tiết khoa học, và cũng
chưa thấy kết quả nghiên cứu được công bố trên một tập san y
khoa có uy tín trên thế giới. Vấn đề đặt ra là ai sẽ chịu trách
nhiệm theo dơi và quản lí lâm sàng những bệnh nhân đó. Đây là
vấn đề y đức. Chúng ta vẫn chưa quên vào những năm trong thập
niên 1980 đă có những “tai nạn” mà những bệnh nhân được ghép
giác mạc mắt đầu tiên chịu hậu quả rất nặng nề nhưng chẳng ai
chịu trách nhiệm.
Một số công tŕnh mang danh là “nghiên cứu” nhưng thực chất là
những cuộc thu thập số liệu theo hợp đồng cho kĩ nghệ dược.
V́ nguồn bệnh nhân càng ngày càng hiếm ở các nưóc phương
Tây, các công ti dược đa quốc gia có xu hướng tuyển mộ bệnh nhân
từ các nước trong khối xă hội chủ nghĩa cũ (Đông Âu), các nước
nghèo hơn ở Á châu, những nơi mà qui chế về y đức c̣n lỏng lẻo.
Và, trong quá tŕnh chuyển điạ bàn nghiên cứu như thế,
một số bác sĩ ở những nước này trục lợi bằng cách đưa đẩy bệnh
nhân của ḿnh làm đối tượng nghiên cứu, nhưng thực chất th́ chỉ
là những cuộc điều tra thu thập dữ liệu cho các công ti dược.
Vấn đề này đă được nêu lên nhiều lần trong các diễn đàn y
khoa quốc tế trong mấy năm gần đây, nhưng vẫn c̣n tiếp diễn.
Trong nhiều trường hợp, ở một số nước Đông Âu và Á châu
bệnh nhân được “sử dụng” làm đối tượng nghiên cứu mà họ không hề
hay biết, thậm chí c̣n cảm ơn bác sĩ rối rít!
Đây là một vi phạm y đức nghiêm trọng, bởi v́ đáng lẽ
bệnh nhân phải được giải thích rằng họ được tuyển chọn vào công
tŕnh nghiên cứu, và chỉ khi nào họ chấp nhận th́ mới được thu
thập dữ liệu từ họ.
Theo qui ước y đức, ngay cả sau khi tham gia vào công tŕnh
nghiên cứu, bệnh nhân có quyền rút ra bất cứ lúc nào mà không
cần phải nêu lí do, và bác sĩ không có quyền hỏi tại sao.
Ở Việt
Nam, cũng có những trường hợp
bệnh nhân được bác sĩ đưa vào các công tŕnh nghiên cứu mà họ
không hề hay biết, v́ không được giải thích rơ ràng.
Có nhiều bệnh nhân thắc mắc tại sao họ bị lấy máu quá
nhiều lần, nhưng không dám hỏi, v́ nghĩ rằng đó là một qui tŕnh
điều trị thông thường!
Một điều đáng lo ngại hơn là những chi phí về xét nghiệm
trong nghiên cứu lại đùn đẩy cho bệnh nhân!
Đây là một điều không thể chấp nhận được, bởi v́ khi bệnh
nhân tham gia vào nghiên cứu, họ đă hi sinh thời gian và mẫu
sinh học cho nhà nghiên cứu, không có lí do ǵ gây thêm bất tiện
và “móc túi” họ.
Một vi phạm y đức khác ít ai để ư là vấn đề cỡ mẫu trong
nghiên cứu. Bởi v́
nghiên cứu lâm sàng thường dựa vào một nhóm bệnh nhân để đi đến
kết luận cho một quần thể lớn hơn.
Do đó, số lượng bệnh nhân cần thiết cho nghiên cứu phải
được tính toán một cách khoa học, không được thiếu mà cũng không
được thừa. Nếu công
tŕnh nghiên cứu tuyển số nhiều bệnh nhân nhiều hơn cần thiết
th́ điều này vi phạm y đức v́ làm mất th́ giờ của bệnh nhân và
có khi gây nguy cơ cho họ.
Ngược lại, nếu công tŕnh nghiên cứu tuyển ít bệnh nhân
hơn cần thiết th́ kết quả sẽ chẳng có ư nghĩa ǵ (vô dụng) và
đây cũng là một vi phạm y đức.
Tuy nhiên, trong thực tế nhiều nghiên cứu y học ở nước
ta, vấn đề cỡ mẫu chưa được quan tâm đúng mức, không ít bác sĩ
hay nhà nghiên cứu tính toán cỡ mẫu một cách tùy tiện, hay có
khi tính toán sai phương pháp, thậm chí có khi chẳng tính cỡ mẫu
nào cả! Do đó,
nhiều kết quả nghiên cứu không có ư nghĩa khoa học, chẳng được
áp dụng vào thực tế lâm sàng, và do đó là một vi phạm đến nguyên
tắc số 1 của ngành y.
Như nói trên, chẳng riêng ǵ ở nước ta, ở nước láng giềng
Trung Quốc, t́nh trạng xuống cấp y đức cũng xảy ra.
Khoảng 2 năm trước, một cuốn sách về y đức xuất bản ở
Trung Quốc làm rúng động lương tâm dư luận một thời gian.
Trong sách “Nỗi
đau của Trung Quốc”,
tác giả là một đại biểu quốc hội bỏ công điều tra và mổ xẻ những
vi phạm y đức tràn lan trong giới y bác sĩ Trung Quốc dưới h́nh
thức lừa đảo, ḅn rút tiền bệnh
nhân, liên minh ma quỉ với các công ti dược để khai thác bệnh
nhân “nghiên cứu”, xét nghiệm quá mức (nhằm moi tiền bệnh nhân),
hăm hại bệnh nhân, v.v… Nhưng trớ trêu thay, bệnh nhân chẳng
biết ǵ, chỉ nằm nhà chờ chết và tự trách ḿnh nghèo!
Cũng trong cuốn sách
này, tác giả c̣n mô tả nhiều bệnh nhân bị đẩy làm đối tượng thí
nghiệm khá dă man mà bệnh nhân không hề hay biết, nhưng lại c̣n
cám ơn bác sĩ!
Do đó, ở các nước tiên tiến, các ủy ban y đức rất quan
tâm đến y đức trong nghiên cứu.
Năm 1964, các hiệp hội y khoa thế giới qui tụ ở Helsinki
(Hà Lan), và ra tuyên bố Helsinki 22 điều lệ y đức trong nghiên
cứu y học. Những
điều lệ này được sửa đổi đôi chút vào năm 1975 ở Nhật, và 1983 ở
Ư. Những điều lệ
này được xem là kim chỉ nam cho các công tŕnh nghiên cứu y khoa
ngày nay.
Năm 1996, Bộ Y tế ban hành 12 điều y đức, nhưng không có qui
định cụ thể về y đức trong nghiên cứu lâm sàng hay chưa nhất
quán với tinh thần của Tuyên bố Helsinki. Nếu
kinh nghiệm từ nước ngoài là một bài học, có lẽ một cách thực tế
nhất để nâng cao y đức là huấn luyện và thường xuyên thảo luận
về qui ước y đức trong các trường y và bệnh viện. Nhưng để thực
hiện việc này, chúng ta cần một qui ước hoàn chỉnh chẳng những
trong mối tương tác giữa bệnh nhân và bác sĩ trong điều trị ở
bệnh viện, mà c̣n trong nghiên cứu lâm sàng.
|