|
Chạy đua vũ khí và … dịch cúm
Nguyễn Văn Tuấn
Một trong
những câu hỏi và cũng là vấn đề của y tế công cộng hiện nay là
tại sao các virút, kể cả virút cúm, phát triển khả năng kháng
thuốc rất nhanh. Sự kháng thuốc của virút là một kết quả của
một sự cạnh tranh v́ sinh tồn giữa virút và con người, và về lâu
dài, con người lại chính là kẻ chiến bại.
Một trong những quan tâm lớn về cúm A/H1N1 hiện nay là t́nh
trạng kháng thuốc của virút H1N1. Theo những nghiên cứu mới
nhất virút H1N1 đang trở nên kháng các thuốc như Tamiflu
(oseltamivir) và Relenza (zanamivir), hai trong những thuốc hàng
đầu chống virút cúm. Tỉ lệ kháng thuốc được ghi nhận dao động
từ 12% ở Mĩ và 16% trên thế giới. Nghiên cứu trong pḥng thí
nghiệm cho thấy tỉ lệ kháng thuốc có thể lên đến 98%.
Tại sao virút H1N1 hay các virút gây bệnh nói chung có khả năng
kháng thuốc? Có thể xem khả năng kháng thuốc của virút như là
một quá tŕnh tiến hóa v́ sinh tồn của virút, một cuộc cạnh
tranh với con người. Cuộc cạnh tranh này cũng chẳng khác ǵ …
cuộc chạy đua vũ khí giữa các quốc gia trên thế giới. Mối quan
hệ giữa ki sinh vật và kí chủ cũng là một cuộc chạy đua để sinh
tồn. Kí sinh vật ở đây kể cả những vi rút gây bệnh, và kí chủ
là người, chim, heo, v.v… Cuộc chạy đua này rất khốc liệt, tàn
nhẫn, và phí phạm, mà chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ quân sự và
chiến tranh mới có thể minh họa được vấn đề.
Một cuộc
cạnh tranh không công bằng
Cứ mỗi lần một quốc gia hay bộ lạc có một vũ khí mới th́ đối
phương sẽ t́m cách sản xuất ra một vũ khí mới khác để tự vệ.
Ngày xưa, sự ra đời của kiếm, cung và tên là động cơ để phát
triển áo giáp và lá chắn. Ngày nay, sự có mặt của radar cho ra
đời một loại máy bay Stealth có thể tránh radar. Tương tự, nếu
chó sói có khả năng chạy nhanh để săn bắt thỏ th́ thỏ cũng có
khả năng tiến hóa chạy nhanh hơn chó sói, và chó sói lại tiến
hóa để chạy nhanh hơn ... Đây là những cuộc chạy đua toàn cầu
với sự tham gia của hầu hết các sinh vật sống trên hành tinh
này, một cuộc chạy đua không có hồi kết.
Nhiều người trong giới khoa học nghĩ rằng kí sinh và kí chủ
thường đồng tồn tại với nhau trong t́nh trạng hợp tác v́ ḥa
b́nh. Nhưng giả định này sai và phi thực tế. Một số cơ chế
pḥng bệnh của cơ thể con người đă tiến hóa trong thời gian
10.000 năm qua, và trong thời gian đó, có lẽ con người đă trải
qua 300 thế hệ. Nhưng con người đă tiến hóa với khả năng kháng
các bệnh truyền nhiễm như bệnh đậu mùa và bệnh lao trong vài thế
kỉ qua, với khoảng 12 thế hệ. Trong khi đó, các virút cúm và vi
trùng lao có thể tiến hóa 300 thế hệ trong ṿng 1 tuần! Trong
khi chúng ta cần 1000 năm để tiến hóa th́ virút và vi trùng có
thể tiến hóa trong ṿng 1 ngày. Do đó, trong cuộc chạy đua sinh
tồn này, con người ở vào một vị thế bất lợi, chúng ta không thể
tiến hóa nhanh để chạy trốn khỏi sự tấn công của virút.
Kích thước nhỏ của virút là một lợi thế của chúng: chúng có thể
tồn tại với một số lượng cực ḱ đông đảo. Kích thước của virút
H1N1 chỉ bằng khoảng 1 phần 10.000 mm. Một giọt nước cũng có
thể hàm chứa 1 tỉ virút. Mỗi chúng ta mang trong người khoảng 5
tỉ tế bào virút, phần lớn là ở trong hệ thống tiêu hóa và hô
hấp. Với số lượng khổng lồ này, ngay cả với một tỉ lệ tiến hóa
rất thấp, các virút có thể biến hóa khôn lường mà chúng ta không
thể nào tiên lượng một cách chính xác được.
Ngày nay, virút H1N1 đang hoành hành ở Bắc Mĩ thật ra không phải
là một virút cúm heo, cũng không phải là virút đă gây đại dịch
Tây Ban Nha năm 1918. Các nhà khoa học mới phát hiện rằng virút
hiện hành chỉ mới tiến hóa trong ṿng 6 đến 11 tháng trước đây.
Một số cấu trúc DNA của chúng có nguồn gốc từ virút cúm t́m thấy
ở Bắc Mĩ, một mảng DNA có nguồn từ Âu châu và Á châu, và một
mảng DNA có nguồn gốc từ chim và virút cúm mùa.
Kháng thuốc
Thuốc kháng sinh có lẽ là một trong những phát minh có ích nhất
trong thế kỉ 20, và thể hiện một đóng góp ngoạn mục của khoa học
cho y khoa. Dù arsenic đă được sử dụng cho điều trị bệnh giang
mai từ những năm đầu thập niên 1910, nhưng thời đại kháng sinh
chỉ thật sự h́nh thành khi Alexander Fleming phát hiện rằng vi
khuẩn trong các đĩa thí nghiệm không thể tăng trưởng khi đặt gần
các nơi có mốc penicillium. Tại sao thuốc kháng sinh hiệu quả
nhất lại xuất phát từ mốc? Có thể nói thuốc kháng sinh là một
loại vũ khí hóa học được tiến hóa trong nấm và vi khuẩn để các
sinh vật này có thể pḥng chống lại các vi khuẩn gây bệnh.
Chúng đă được tiến hóa qua hàng triệu năm với những quá tŕnh
sửa sai (trial and error) để khai thác thế yếu của vi khuẩn mà
không gây độc hại cho nấm.
Một số lượng nấm và sản phẩm từ vi khuẩn mà con người sử dụng
ngày nay tương đối an toàn và có khả năng tiêu diệt các vi khuẩn
gây bệnh lao, hô hấp, và một số bệnh truyền nhiễm khác. Trong
nhiều thập niên qua, thuốc kháng sinh là một phương tiện y tế
quan trọng của các nước đă phát triển để pḥng chống các bệnh
truyền nhiễm. Qua những biện pháp y tế công cộng và thuốc kháng
sinh, các nước đă phát triển nói chung đă thành công một cách
ngoạn mục trong việc chinh phục bệnh truyền nhiễm. Trước thành
công này, năm 1969, Bộ trưởng Y tế Mĩ tuyên bố đầy tự hào rằng
“đă đến lúc chúng ta đóng sổ bệnh truyền nhiễm”.
Nhưng cũng như bất cứ thời đại vàng son khác, thời đại vàng son
chống bệnh nhiễm cũng có thời gian ngắn ngũi. Ngày nay, chúng
ta biết rằng những vi khuẩn gây bệnh lao và bệnh lậu rất khó
kiểm soát và khống chế hơn là những vi khuẩn gây bệnh này trong
quá khứ. Các vi khuẩn đă tiến hóa chống lại các thuốc kháng
sinh như là chúng đă tiến hóa để chống lại các vũ khí tự nhiên
của con người và nấm trong suốt lịch sử tiến hóa.
Vi khuẩn staphylococcal là một vi khuẩn phổ biến nhất trong các
vết thương. Năm 1941, tất cả vi khuẩn này đều bị thuốc
penicillin khống chế. Đến năm 1944, một số chủng ḍng thuộc vi
khuẩn này đă tiến hóa để có thể sản xuất các enzyme có khả năng
cắt penicillin ra từng mảnh và vô hiệu hóa penicillin. Ngày
nay, 95% các ḍng staphylococcus đều có dấu hiệu hay khả năng
kháng penicillin. Năm 1950, một loại penicillin nhân tạo là
methicillin có thể sản xuất để tiêu diệt các vi sinh vật này,
nhưng các vi khuẩn này sau đó lại tiến hóa thành những chủng và
ḍng mới, và thuốc kháng sinh mới cần phải sản xuất. Năm 1980,
thuốc ciprofloxacin cho chúng ta một niềm hi vọng lớn khi mới
được giới thiệu trên thị trường, nhưng chỉ vài năm sau, hơn 80%
các ḍng staphylococcal đă trở nên kháng thuốc.
Vào thập niên 1960, phần lớn những ca bệnh lậu có thể điều trị
dễ dàng với thuốc penicillin, hay nếu có kháng thuốc th́ vẫn có
thể điều trị bằng ampicillin. Ngày nay, 75% các ḍng vi khuẩn
gây bệnh lậu đă có sẵn enzyme để “chặt chém” ampicillin và vô
hiệu hóa thuốc này.
Cơ chế tiến hóa của vi khuẩn khá đơn giản. Chúng chỉ cần thay
đổi một vài khúc DNA trong bộ gen, hay đột biến một số gen cần
thiết để đương đầu với “kẻ thù” mới (con người). Nhưng ngoài
ra, vi khuẩn c̣n có thể tiến hóa bằng một thủ thuật đơn giản:
chúng có thể tự gây nhiễm trùng bằng một khúc nhỏ DNA gọi là
plasmid. Năm 1976, các nhà khoa học phát hiện vi khuẩn gây bệnh
lậu mới có một số gen có chức năng tiêu diệt penicillin qua
plasmid từ E. coli, một vi khuẩn sống trong đường ruột
của con người. Do đó, khoảng 90% vi khuẩn bệnh lậu ở Thái Lan
và Phi Luật Tân trở nên kháng thuốc.
Hiện nay, virút H1N1 mới phát hiện đă được tiến hóa và có khả
năng kháng thuốc tamiflu và relenza. Trong ṿng 6 tháng tới,
thế giới sẽ có thuốc mới chống virút H1N1 mới. Tuy nhiên, theo
qui luật tiến hóa của virút và cuộc cạnh tranh sinh tồn giữa
virút và con người, chúng ta có thể ḱ vọng rằng một virút H1N1
mới khác sẽ xuất hiện trong tương lai, một loại thuốc mới khác
sẽ ra đời, và một cuộc chạy đua mới giữa kí sinh và kí chủ lại
diễn ra.
Chấp nhận
sống chung với virút
Tuy nhiên, có một tin mừng. Đứng trên phương diện miễn nhiễm
học, một đại dịch có thể thay đổi sự phân phối gen của một dân
số một cách đột ngột. Những người mắc bệnh và sống sót sẽ có
khả năng đề kháng nhiễm trùng trong tương lai, bởi v́ họ tích tụ
trong cơ thể một hàm lượng lymphocyte có thể sản xuất kháng thể
chống lại các virút gây bệnh.
Những đại dịch trong quá khứ cho thấy con người có thể tiến hóa
để chống virút trong ṿng vài tháng. Khi người Âu châu đến khai
thác Mĩ châu, họ mang theo virút bệnh làm chết cho gần 90% người
bản xứ trong một thời gian ngắn. Nếu kháng sinh chịu ảnh hưởng
của gen, người bản xứ không c̣n sống sót ắt hẳn phải mang trong
người những gen tốt chống virút.
Danh sách những đe dọa mà chúng ta đương đầu với các vi khuẩn
kháng thuốc là một danh sách dài và đáng sợ. Virút đă, đang và
sẽ tồn tại cùng chúng ta trong cuộc sống; chúng ta không có cách
nào loại trừ chúng hoàn toàn. Vấn đề không phải là t́m cách loại
trừ chúng (v́ không thể làm được), nhưng phải học cách sống với
chúng một cách sáng suốt. Có khi chúng ta phải chấp nhận một mức
độ nguy hiểm của cuộc sống đa chiều. Mức độ nguy hiểm có thể
chấp nhận được tùy thuộc vào nhận thức của từng cá nhân, và
trong trường hợp này, lí trí là một phương tiện không thể thiếu
được trong cuộc sống mới. Nhận thức về những rủi ro như dịch cúm
gia cầm là một điều cần thiết. Nhưng nhận thức như thế là để
chúng ta biết những điều không nên hành động, chứ không phải để
hốt hoảng.
Chú thích:
Bản ngắn hơn đă đăng trên
TTCN (16/5/09)
 |