|
Một vài ngộ nhận về nghiên
cứu khoa học
Nguyễn Văn Tuấn
(Bài đă đăng trên
Tia Sáng)
Trong vở kịch “Romeo và Juliet”, văn hào Shakespeare cho Juliet
nói một câu về hoa hồng như sau: “Một đóa hoa hồng, dù được
gọi bằng bất cứ tên ǵ, th́ vẫn có hương vị ngọt ngào”.
Câu hỏi đặt ra là trong khoa học, chúng ta có thể phân biệt các
hoạt động nghiên cứu khoa học với các hoạt động khác trong xă
hội mà nh́n và cảm nhận cũng giống như nghiên cứu?
Theo một
giáo sư khả kính th́ hai hoạt động sau đây là nghiên cứu
khoa học: một bà nội trợ đi thăm ḍ giá cả ngoài chợ để mua thực
phẩm với giá rẻ nhất và chất lượng tốt nhất, hay đôi trai gái
t́m hiểu nhau trước khi tiến đến hôn nhân.
Nhưng tôi ngờ rằng cách hiểu về nghiên cứu khoa học như là những
hoạt động thường ngày của vị giáo sư có phần phiến diện, nếu
không muốn nói là sai. Thế th́ vấn đề đặt ra là: thế nào là một
nghiên cứu khoa học (NCKH)?
Người viết bài này (và nhiều người khác) có thể lấy kinh nghiệm
thực tế của ḿnh để trả lời câu hỏi trên. Nói một cách ngắn
gọn: nghiên cứu khoa học là một hoạt động của con người nhằm
mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học. Theo cách
hiểu phổ quát này, có hai điều kiện để một hoạt động có thể xem
là nghiên cứu khoa học: mục tiêu và phương pháp.
Nghiên cứu khoa học phải nhằm mục tiêu phát triển tri thức mới,
hay đóng góp thêm tri thức cho kho tàng tri thức của con người.
Những tri thức này phải mang tính phổ quát hay có thể khái quát
hóa. Một bà nội trợ có thể ra chợ khảo sát giá cả thực phẩm và
có những so sánh thú vị, nhưng đó không phải là một NCKH, bởi v́
tri thức đó không thể khái quát hóa. Người ta có thể tạo ra tri
thức bằng cách kiểm tra nhiệt độ nước trong bồn tắm, nhưng tri
thức này chỉ hợp lí tại một thời điểm và một bối cảnh cụ thể.
Nhưng nếu người đó đổ nước nóng vào bồn tắm và đo lường sự thay
đổi nhiệt độ nước, th́ đó là một tri thức có thể khái quát hóa,
và đáp ứng một điều kiện của NCKH.
Nghiên cứu khoa học là một cuộc điều tra hay khảo sát có hệ
thống. Hai chữ “hệ thống” ở đây có nghĩa là công tŕnh nghiên
cứu được thực hiện theo những qui tŕnh chuẩn. Qui tŕnh chuẩn
trong nghiên cứu khoa học gồm 8 bước: đặt câu hỏi; thu thập
thông tin hiện hành; đặt giả thuyết; thử nghiệm và thu thập dữ
liệu; phân tích dữ liệu; diễn giải kết quả phân tích; công bố
kết quả; và tái kiểm định giả thuyết. Trong qui tŕnh này,
phương pháp đóng vai tṛ quan trọng, v́ chính phương pháp quyết
định khoa học tính của một hoạt động, và phân định hoạt động đó
là khoa học hay phi khoa học. Một phương pháp thu thập dữ liệu
mang tính khoa học nếu phương pháp đó có cơ sở lí thuyết, có giả
định, độ tin cậy cao, và độ chính xác cao.
V́ phương pháp khoa học có độ tin cậy và chính xác cao, cho nên
kết quả của NCKH có tính lặp lại (repeatability). Nói cách
khác, nếu giả có một nghiên cứu đă được công bố bởi một nhà khoa
học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó
bằng những phương pháp và với điều kiện đă được mô tả, phải đạt
được những kết quả tương tự. Điều này rất khác với các hoạt
động phi khoa học, v́ kết quả của các hoạt động phi khoa học
không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Do đó, việc khảo giá
của bà nội trợ hay việc đôi trai gái t́m hiểu nhau không thể xem
là khoa học, bởi những kết quả đó không có khả năng lặp lại và
khái quát hóa.
Bởi v́ phương pháp khoa học dựa trên lí thuyết và giả định, cho
nên kết quả khoa học phải được diễn giải bằng bằng chứng, bằng
lí luận dựa vào logic hay lập luận của toán học, không đi ra
ngoài phạm vi của dữ liệu cho phép. Ngược lại, các hoạt động
phi khoa học thường dựa vào niềm tin và sự trung thành. Những
hoạt động phi khoa học thường mang tính tôn giáo; nó cố gắng cải
đạo, chứ không thuyết phục bằng bằng chứng thực nghiệm; nó đ̣i
hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm
tin.
Bởi
v́ kết quả của nghiên cứu có giá trị phổ quát, cho nên kết quả
nghiên cứu không hẳn tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh địa
phương. Do đó,
cho rằng “Chẳng hạn, một đề tài mang lại ư nghĩa lớn đến
pḥng chữa bệnh ở xứ sở nhiệt đới như nước ta. Nghiên cứu về
‘Mắm tôm và bệnh tả’ dầu có thể là rất bổ ích (ít nhất là đối
với Bộ Y tế) nhưng chắc không tạp chí quốc tế nào đăng” thể
hiện một sự hiểu lầm và … sai. Có lẽ tác giả của câu phát biểu
trên không biết rằng các tập san khoa học danh tiếng về bệnh
nhiệt đới đều có trụ sở ở Mĩ và Anh, chứ không phải ở Á châu hay
Phi châu.
Bộ Y tế đă khẳng định rằng mắm tôm không phải là nguyên nhân
gây bệnh tả; do đó, câu phát biểu trên chẳng những không cần
thiết, mà c̣n không thích hợp.
Ngay cả nếu một nghiên cứu về mắm tôm và bệnh tả được thực hiện,
th́ kết quả của nghiên cứu vẫn có thể công bố trên các tập san
khoa học có uy tín, nếu công tŕnh nghiên cứu được tiến hành
đúng theo các phương pháp khoa học. Thật là sai lầm khi suy
nghĩ rằng mắm tôm là một đặc sản của Việt Nam, và do đó, kết quả
nghiên cứu mắm tôm không được thế giới quan tâm. Vấn đề không
phải là mắm tôm, mà mắm tôm là một trong những mô h́nh để nghiên
cứu về nồng độ mặn và vi khuẩn tả, và đó là một vấn đề khoa học
mang tính phổ quát. Tương tự, khi chúng tôi muốn phân định ảnh
hưởng của đạm thực vật đến xương, chúng tôi có thể chọn nghiên
cứu các tu sĩ Phật giáo đại thừa, hay chúng tôi muốn t́m hiểu
vận động cơ thể và chất lượng xương, chúng tôi có thể chọn
nghiên cứu ở những bệnh nhân bị tai biến mạch máu năo (v́ một số
bệnh nhân không có khả năng đi đứng). Bệnh nhân tai biến, tu sĩ
Phật giáo, và mắm tôm trong những nghiên cứu này là những mô
h́nh khoa học để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh học
đặc thù, chứ không phải là những nghiên cứu chỉ áp dụng cho một
địa phương hay cho một nhóm người.
Những người làm nghiên cứu khoa học dấn thân v́ mục tiêu khám
phá, truyền bá, và phổ biến sự thật. Một công tŕnh nghiên cứu
khoa học chỉ hoàn tất khi kết quả được công bố trên một tập san
khoa học có đồng nghiệp b́nh duyệt và phản biện nghiêm chỉnh. Ở
đây, tính minh bạch của NCKH rất quan trọng, v́ nó chẳng những
là một yêu cầu của khoa học mà c̣n là một khía cạnh để phân biệt
khoa học với phi khoa học.
Các
hoạt động thường ngày mới nh́n vào th́ thấy cũng chẳng khác ǵ
nghiên cứu khoa học, nhưng thật ra th́ không phải nghiên cứu
khoa học, do không đáp ứng hai điều kiện cần thiết: mục tiêu và
phương pháp. V́ không phân biệt được hai điều kiện này nên
nhiều người không hiểu thế nào là một nghiên cứu khoa học. Thật
vậy, trong một cuộc thăm ḍ ư kiến ở Mĩ vào năm 1999, chỉ có 21%
người dân hiểu đúng về nghiên cứu khoa học. Ở một nước với
tŕnh độ khoa học tiên tiến như Mĩ mà có đến gần 80% người không
hiểu về nghiên cứu khoa học, th́ có lẽ chúng ta không ngạc nhiên
nếu thấy ở nước ta cũng có nhiều người chưa am hiểu về nghiên
cứu khoa học. Nhưng đó không phải là lỗi của người dân, mà là
vấn đề của giới khoa học và giới truyền thông. Rất tiếc là một
số nhà khoa học vẫn hiểu lầm thế nào là một nghiên cứu khoa học!
Khoa học, nhà khoa học, nghiên cứu, trí thức, v.v... không phải
là những phù hiệu mà ai muốn mang vào ngực th́ mang, mà là những
việc làm thực tiễn, những ư nghĩ hay sáng kiến mới. Muốn có
những sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế, nhà khoa học phải
làm việc một cách gian khổ, bất vụ lợi, có khi rất lâu dài. Có
thể ví khoa học như một cái đỉnh chót vót của sự chính trực,
công bằng, và hợp lí. Nhưng cái đỉnh này nó trơn và dễ bị
trượt. Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần
hay đứng trên nó được, và càng phải cố gắng hơn để ở được cái vị
trí đó.
 |