Sữa và Nuôi dưỡng trẻ em bằng sữa
Nguyễn Đ́nh
Nguyên
Trong thời
gian gần đây, vừa lắng đi sự cố sữa bị nhiễm hóa chất melamine ở
quá ngưỡng an toàn, th́ lại dấy lên thông tin về sữa thiếu chất
lượng; cụ thể là sữa bày bán ở thị trường bị thiếu hụt lượng đạm
nghiêm trọng thông qua con số thông báo trên nhăn không phù hợp
với mức độ thực tế do thanh tra đo lường. Nhiều ư kiến, bàn thảo
được đưa ra về hàm lượng đạm và vai tṛ dinh dưỡng của đạm trong
sữa cũng như của sữa ở trẻ em, tuy nhiên cho thấy có sự có sự
lúng túng và nhầm lẫn về loại sữa, đạm trong sữa, và vai tṛ
dinh dưỡng của sữa đối với trẻ em, kể cả ư kiến của một số nhà
chuyên môn. Bài viết này, nhằm giới thiệu tổng quát một cách vắn
tắt về sữa và vai tṛ của sữa trong nuôi dưỡng trẻ em để cho
người tiêu dùng có thêm kiến thức về thực hành nuôi dưỡng con em
ḿnh.
Sữa mẹ
Phải nói
trước tiên rằng, hầu hết các trẻ em khi sinh ra là cần được nuôi
bằng sữa mẹ, bất kể là trẻ sinh non, bệnh tật, và rất hiếm các
trường hợp ngoại lệ có chỉ định của bác sĩ mới không nuôi con
bằng sữa mẹ ngay từ khi sinh mà thôi. Tại sao lại như vậy? Sữa
mẹ là sữa người, là một loại sữa duy nhất để nuôi con nhỏ v́ đặc
tính ưu việt của nó so với tất cả các sữa của động vật khác loài
người. Sữa mẹ ưu việt và ở vị thế tuyệt đối giúp cho trẻ sơ sinh
đến hết thời kỳ bú mẹ tối ưu hóa về sự phát triển không chỉ về
thể lực mà c̣n về trí tuệ, đồng thời ngăn ngừa bệnh tật cấp tính
cũng như bệnh lư măn tính về sau.
Tuyệt đại đa
số, trẻ sơ sinh là bú mẹ được, và mẹ có sữa đủ cho con bú, dù mẹ
ở lứa tuổi nào, con so hay con rạ, sinh thường hay phải mổ lấy
thai. Tất cả trẻ từ sơ sinh cho đến 6 tháng, thức ăn chỉ là sữa
mẹ, không cần thêm một thức ăn bổ sung nào khác, kể cả trái cây,
nước lọc.
Tuy nhiên,
có một số tỷ lệ rất nhỏ các trường hợp không nuôi con được bằng
sữa mẹ, có thể do nguyên nhân ở mẹ hoặc ở con. Nguyên nhân phổ
biến nhất khiến cho các bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ hoặc
không cho bú mẹ hoàn toàn được cho là thiếu sữa mẹ. Thế nhưng do
cảm nhận chủ quan của người mẹ hoặc do tư thế cho bú không đúng,
thực hành không đúng làm cho nguồn sữa mẹ bị thiếu hụt. Nếu được
chỉ dẫn cụ thể, th́ nguồn sữa mẹ có thể phục hồi. Chỉ có hạn hữu
một số trường hợp là không đủ, và cần phải được bác sĩ chuyên
khoa xác định. Phần c̣n lại có những lư do chính như mẹ phải
dùng các thuốc trong thời kỳ cho con bú mà có khả năng thấm qua
sữa mẹ và ảnh hưởng đến bé, hoặc mẹ mắc bệnh có thể lây sang con
như HIV/AIDS…và mẹ thực sự không đủ sữa; về phần trẻ, có một số
ít trẻ bị dị ứng sữa mẹ.
Trong mọi
trường hợp quyết định trước khi cho trẻ dưới 6 tháng dùng sữa
nhân tạo (sữa hộp), nên tham khảo ư kiến bác sĩ chuyên khoa
trước.
Sữa nhân tạo
nuôi dưỡng trẻ em
Khi thiếu
hụt sữa mẹ nguồn thay thế bất đắc dĩ là sữa nhân tạo. Thành phần
dinh dưỡng của sữa người mẹ không giống với bất kỳ một loại sữa
của động vật nào khác, đó là chưa kể thành phần chức năng (ngừa
bệnh tật, giúp trí năo phát triển tốt) th́ không có sữa động vật
nào có được.
Hầu hết sữa
của các động vật khác đều có nồng độ dinh dưỡng, đặc biệt là đạm
rất cao, với mục đích chủ yếu là để tăng trọng lượng. Cấu trúc
đạm cũng khác biệt, trong đó phải kể đến hai thành phần đạm
chính yếu trong sữa đó là đạm whey và đạm casein. Đạm whey là
đạm nước chiết tách ra từ khối đạm, có đặc tính dễ phân hóa
thành đơn vị nhỏ, nên dễ hấp thu, nên c̣n gọi là đạm hấp thu
nhanh; c̣n đạm casein là thành phần đạm đặc, đạm chứa nhiều
phốt-pho, và nó lâu tiêu do phân hủy chậm.
Tỷ lệ đạm
nước và đạm đặc trong sữa mẹ là 60:40, trong khi đó tỷ lệ này
của sữa ḅ là nguyên chất là 80:20. Về mặt nguyên tắc đạm nước
và đạm đặc đều có đậm độ năng lượng như nhau, nhưng đạm nước dễ
phân hủy, hấp thu nhanh và dễ tiêu hơn, cơ thể sử dụng ngay nên
cũng nhanh đói hơn; c̣n đạm đặc do tiêu hóa chậm, nên lại có tác
dụng no kéo dài hơn, và tích lũy nhiều hơn. Đây là lư do tại sao
trẻ bú ngoài hay bị táo bón, mà bú sữa mẹ th́ không.
Đối với trẻ
em dưới 6 tháng, khả năng tiêu hóa c̣n chưa tốt, và nhu cầu sử
dụng năng lượng cũng không cao, v́ vậy sữa động vật phải chế
biến sao cho giống thành phần sữa mẹ nhất, đặc biệt là protein,
cho nên loại sữa dành cho trẻ dưới 6 tháng gọi là sữa khởi đầu
hoặc sữa loại 1, loại này có tỷ lệ đạm nước: đạm đặc là 60:40
như sữa mẹ.
Đối với trẻ
trên 6 tháng, do nhu cầu năng lượng cao hơn và hệ tiêu hóa của
cháu đă phần nào hoàn thiện nên có thể tiêu hóa được đạm đặc tốt
hơn, và nhất là chống đói, nên thành phần đạm đặc cao hơn, và tỷ
lệ đạm nước so với đạm đặc lúc này là 20:80, đây là sữa giai
đoạn sau, hay c̣n gọi là sữa loại 2.
Ngoài ra,
người ta c̣n phải thêm vào trong sữa ḅ đầy đủ các chất sinh tố
vi lượng sao cho đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của bé trong
một ngày.
Ba thành
phần dinh dưỡng vĩ mô chính yếu đó là đạm, chất béo và
carbohydrate ta hay gọi là đường. Để dễ kiểm soát, theo quy định
chung, tất cả các sữa nuôi dưỡng trẻ em, thành phần dinh dưỡng
phải được ghi rơ trên nhăn hộp sữa, tính theo đơn vị 100kcal và
theo đơn vị 100ml sữa. Các thành phần dinh dưỡng này không được
quá thấp, sẽ thiếu năng lượng và dinh dưỡng và cũng không được
quá cao, trẻ sẽ thừa năng lượng, và thậm chí quá tải chức năng
của trẻ, ví dụ như thừa đạm sẽ có thể tổn thương thận.
Theo quy
định chuẩn của thế giới, tỷ lệ thành phần dinh dưỡng vĩ mô trong
sữa nuôi dưỡng trẻ được quy định như sau
|
Thành phần
|
Đơn
vị
|
Tối
thiểu
|
Tối
đa
|
|
Năng
lượng
|
kcal/100ml
|
60
|
70
|
|
Đạm
sữa ḅ
|
g/100kcal
|
1.8
|
3.0
|
|
Đạm
sữa đậu nành
|
g/100kcal
|
2.25
|
3
|
|
Chất
béo toàn phần
|
g/100kcal
|
4.4
|
6.0
|
|
Carbohydrate toàn phần
|
g/100kcal
|
9.0
|
14.0
|
Nếu nh́n vào
thành phần bảng quy định chuẩn này, trong 1 lít sữa nuôi dưỡng
trẻ em chế biến từ nguồn sữa ḅ, lượng đạm tối thiểu phải có
12.6g và tối đa chỉ được 18g; tương tự chất béo là từ 30.8g –
36g; và carbohydrate từ 63g- 84g.
Trong khi
đó, với 1 lít sữa ḅ tươi, lượng đạm có thể lên đến 32g, với tỷ
lệ đạm nước quá thấp và đạm đặc quá cao (20:80) trẻ sẽ khó tiêu
hóa và quá thừa đạm, mà lại thiếu hụt hầu hết các chất vi lượng
cần thiết khác cho trẻ.
Sữa nuôi
dưỡng trẻ em được tŕnh bày dưới dạng sữa nước pha chế sẵn, sữa
nước cô đặc và dạng sữa bột. Đối với sữa nước pha sẵn th́ chỉ
cần cho trẻ dùng ngay, không pha thêm ǵ khác. Nhưng loại này
giá thành đắt. Đối với loại sữa nước cô đặc (không phải sữa đặc
có đường) th́ phải pha thêm nước theo hướng dẫn.
Sữa bột dinh
dưỡng trẻ em là phổ biến nhất, giá rẻ hơn loại nước. Đối với sữa
bột, khi pha chế sữa, nhất thiết phải tuân thủ theo quy cách pha
đă hướng dẫn trên hộp sữa, phải dùng muổng (th́a) đong đi kèm
theo hộp sữa, và không nên pha thêm bất kỳ một loại bột hay thức
ăn nào vào trong sữa để tránh t́nh trạng làm tăng nồng độ thẩm
thấu của sữa, trẻ sẽ bị tiêu chảy.
Ngoài loại
sữa nhân tạo chính yếu và phổ biến này, c̣n có các loại sữa nhân
tạo đặc biệt để sử dụng trong các trường hợp trẻ bệnh lư như trẻ
bị dị ứng đạm của sữa động vật, trẻ hay nôn trớ…Cho nên, khi lựa
chọn sữa cho con ḿnh, tốt nhất là nên tham khảo với bác sĩ gia
đ́nh hoặc tại hiệu thuốc tây, và chỉ mua những hiệu sữa được xác
nhận là sữa dinh dưỡng trẻ em được phép phân phối.
Ngày nay, có
một số quảng cáo mới về các loại sữa cải tiến, có gia thêm các
chất như DHA hoặc ARA, được cho là giúp trẻ phát triển trí năo.
Nhưng kỳ thực, chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học để khẳng định
tác dụng này. Dĩ nhiên là giá cả cao hơn loại sữa thông thường.
Do đó không nhất thiết phải dùng sữa đắt tiền. Chỉ cần dùng sữa
đúng tiêu chuẩn và rẻ tiền là đạt yêu cầu.
Không được
dùng sữa ḅ nguyên chất bất kỳ dưới h́nh thức nào để nuôi dưỡng
trẻ dưới 1 tuổi v́ trẻ không có khả năng tiêu hóa hết. Trẻ 1
tuổi trở lên là có thể sử dụng được sữa tươi nguyên chất, nhưng
không nên nuôi dưỡng trẻ em bằng sữa tách béo.
Có một số
quan ngại cho rằng sữa thiếu đạm sẽ có nguy cơ gây cho trẻ em
suy dinh dưỡng. Về mặt lư thuyết th́ có thể xảy ra, nhưng trên
thực tế th́ điều này rất hiếm, hay có thể nói là chưa có bằng
chứng. Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi, sẽ có nguy cơ suy dinh
dưỡng nếu chỉ nuôi con bằng nước cháo, như một số gia đ́nh
nghèo; và thực sự nếu có loại sữa dinh dưỡng cho trẻ em giả nào
mà có rất ít đạm th́ mới có nguy cơ này. Trong khi đó sữa dinh
dưỡng trẻ em là loại sữa đặc biệt, chỉ có một số các công ty
dinh dưỡng lớn mới có khả năng sản xuất.
Đối với trẻ trên 6 tháng, sữa vẫn c̣n quan trọng nhưng đă
giảm đáng kể và nguồn thức ăn được bổ sung bằng thức ăn đặc. Do
đó, nếu trong thức ăn sam của trẻ không đủ đạm và chất vi lượng,
năng lượng th́ trẻ sẽ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng do thiếu đạm
hay thiếu năng lượng bắt đầu từ lứa tuổi này. Ngoài 1 tuổi,
nguồn dinh dưỡng chính của trẻ chắc chắn là thức ăn đặc, chứ
không phải là sữa.
Do đó, nguy
cơ chủ yếu của bệnh lư suy dinh dưỡng ở trẻ em là do thực hành
nuôi dưỡng trẻ em không đúng cách, chứ không phải do sữa thiếu
đạm.
Sữa nhân tạo
thông thường
Sữa này rất
phổ biến ở phương tây, và trong thời gian gần đây cũng đă phổ
biến ở Việt nam. Rất nhiều bà mẹ đă nhầm lẫn loại sữa nhân tạo
thông thường này với sữa nhân tạo nuôi dưỡng trẻ. Sữa nhân tạo
thông thường, chủ yếu là chế phẩm từ sữa ḅ có thể là sữa nước
hoặc sữa bột ở dạng nguyên hoặc tách béo.
Về quy định
thành phần sữa nhân tạo thông thường có hai cách thức. Nếu là
sữa chế biến để uống hàng ngày th́ quy định cách ghi thành phần
dinh dưỡng gần giống như sữa trẻ em, là mô tả trên đơn vị 100ml
(không nhất thiết phải trên đơn vị 100kcal năng lượng), và trên
một đơn vị khẩu phần dùng, thông thường là 250ml. Đối với sữa
tươi nguyên kem thành phần đạm chỉ khoảng 3.0 -3.2g/100ml sữa,
đối với sữa tươi tách béo th́ thành phần đạm có thể cao hơn 3.4
đến 4.5g/100ml sữa.
Về h́nh thức
th́ cũng có hai dạng, dạng nước nguyên chất hoặc dạng bột khô.
Đối với dạng bột khô th́ phải ghi rơ cách thức pha chế sao cho
cũng đạt được một đậm độ năng lượng và thành phần dinh dưỡng
tương đương với sữa nguyên chất ban đầu.
Ngoài dạng
sữa nhân tạo thông thường sử dụng để uống, chúng ta c̣n có loại
sữa dùng để chế biến thức ăn. Hai loại chủ yếu này là sữa đặc có
đường và sữa bột khô. Sữa bột khô dùng để chế biến thức ăn có
thể khác với sữa bột dinh dưỡng ở chỗ tŕnh bày thành phần tỷ lệ
đạm, mỡ và carbohydrate. Theo quy định th́ loại này có thể chỉ
cần ghi tỷ lệ phần trăm của các yếu tố: độ ẩm, đạm, mỡ,
carbohydrate và chất tạp (ash). Sữa bột chuẩn nguyên kem được
chế từ sữa ḅ có tỷ lệ (tính trên đơn vị khô) độ ẩm 2 -4.5%;
chất đạm 24.5-27%, chất béo 26-28.5%, carbohydrate 36-38.5% và
tạp 5.5- 6.5%. Với sữa tách béo th́ tỷ lệ đạm cao hơn, có thể
đến 34% trọng lượng khô.
V́ không có
tŕnh bày đậm độ năng lượng và cách thức pha chế để đạt được
lượng sữa dinh dưỡng chuẩn nên loại sữa bột này không được dùng
để pha chế uống trực tiếp. Không nên nhầm lẫn điều này.
Tóm lại, tất
cả các trẻ em sinh ra cần phải được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, và
chỉ bằng sữa mẹ mà không cần thêm bất cứ một chất ǵ khác kể cả
nước cho đến 6 tháng tuổi. Sau 6 tháng trở đi, trẻ được cho ăn
sam chất đặc đầy đủ thành phần năng lượng. V́ một lư do nào nó
không thể nuôi dưỡng trẻ bằng sữa mẹ một phần hay hoàn toàn th́
sữa nhân tạo nuôi dưỡng trẻ là sự lựa chọn thay thế. Đây là một
loại sữa được chế biến đặc biệt dùng thay thế sữa mẹ, và có hai
loại, một loại dùng cho trẻ dưới 6 tháng và một loại dùng cho
trẻ trên 6 tháng. Phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hướng dẫn pha
sữa được ghi trên nhăn hộp sữa. Sữa tươi nguyên chất chỉ được
dùng cho trẻ trên một tuổi. Nếu là sữa bột, th́ chỉ được sử dụng
loại có hướng dẫn cách
pha cụ thể. Không được dùng sữa tách béo cho trẻ em. Không được
dùng sữa đặc có đường và loại sữa bột thông thường không chỉ dẫn
cách pha chế để nuôi dưỡng trẻ.
|