Xung đột quyền lợi trong y tế
Huỳnh Tấn Tài
YKHOANET 080608 - Đọc báo Việt Nam qua
mạng, hoặc trao đổi với người quen trong nước, đều có thể thấy
nhiều hiện tượng đáng quan tâm trong ngành y tế:
- Bác sĩ nhận huê hồng từ các công ty
dược phẩm để ghi tên thuốc mà tính hiệu quả đối với bệnh của
bệnh nhân có thể bị đặt thành vấn đề.
- Bệnh viện kư hợp đồng cung cấp văn
pḥng phẩm với công ty của con gái vị giám đốc bệnh viện.
- Lănh đạo đi dự hội nghị chuyên môn tại
nước ngoài với tài trợ từ công ty dược phẩm.
H́nh thức có khác nhau, nhưng các biểu hiện
trên phản ánh các khía cạnh của xung đột quyền lợi trong y tế.
Bài viết này tŕnh bày định nghĩa về xung đột quyền lợi, các
biểu hiện và biện pháp pḥng chống ở 3 cấp (cấp lănh đạo, cấp
quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân và cấp quản trị lâm sàng).
Định nghĩa về xung đột quyền lợi trong y
tế
Có nhiều định nghĩa về xung đột quyền lợi.
Tại Hoa Kỳ, Ủy Ban Liên Hợp (1) cũng chỉ yêu cầu các tổ chức y
tế được kiểm định có chính sách về xung đột quyền lợi mà không
quy định cứng nhắc định nghĩa cũng như biện pháp. Theo Boyle và
các đồng tác giả (2), một xung đột khả dĩ hiện hữu nếu:
(1)
Một nhân viên hoặc thân nhân, cộng sự của nhân viên đó có
quyền lợi cá nhân rất lớn;
(2)
Nhân viên đó có tham dự vào quá tŕnh quyết định, hoặc
ảnh hưởng tới quyết định của người khác, nhân danh tổ chức;
(3)
Nhân viên đó thực hiện các quyết định nhân danh tổ chức
chỉ nhằm tăng thêm quyền lợi cá nhân của ḿnh, chứ không phải
tăng thêm quyền lợi của tổ chức;
(4)
Khiến cho tổ chức bị thiệt hại.
Xung đột quyền lợi là mối quan tâm hàng đầu
ở Hoa Kỳ. Liên bang và các tiểu bang đều có những đạo luật về
vấn đề này. Trong y khoa, có các đạo luật được biết dưới tên
Stark I, Stark II có nhiều điều cấm bác sĩ về việc giới thiệu
bệnh nhân tới các cơ sở xét nghiệm và chẩn đoán h́nh ảnh mà bác
sĩ đó có quyền lợi tài chánh, cũng như những điều khoản cấm “lại
quả” (antikickback clauses). Hội Y khoa Hoa Kỳ (AMA – American
Medical Association) trong “Code of Medical Ethics” cập nhật
hàng năm đều có đề cập tới vấn đề này (3).
Các biểu hiện và biện pháp pḥng chống
tại các cấp:
Cấp lănh đạo
Lănh đạo ở đây bao gồm hội đồng quản trị và
ban lănh đạo tổ chức y tế. Nếu ở Việt Nam th́ cần phải kể thêm
đảng ủy của cơ sở. Xung đột quyền lợi càng lớn khi cá nhân có
nhiều quyền hành và ít chịu sự kiểm soát của tổ chức.
Để tránh t́nh trạng trên, các tổ chức
thường đề ra năm biện pháp:
-
Nhận diện các xung đột khả dĩ
(identification of potential conflicts)
-
Công khai (disclosure)
-
Giới hạn quyền hành và hành động
(limits of authority and action)
-
Miễn tham dự (recusal)
-
Băi nhiệm (exclusion or divestment)
Nhận diện các xung đột khả dĩ:
Các xung đột quyền lợi có khả năng xảy ra khi có các t́nh
huống sau đây:
(1)
Thành viên ban lănh đạo hoặc người thân có các dịch vụ
với tổ chức y tế, mua, bán, tham vấn, v.v., như đă nêu ở trên.
(2)
Thành viên ban lănh đạo chiếm lấy một cơ hội kinh doanh
cho ḿnh hoặc người thân, thay v́ dành cho tổ chức. Thí dụ,
nhờ thông tin nội bộ mà thành viên biết được tổ chức sẽ mua một
khu đất để xây bệnh viện mới liền thông báo cho người thân mua
trước miếng đất đó, sau đó lại bán lại cho tổ chức, chia chác
lợi nhuận.
(3)
Thành viên ban lănh đạo tham gia vào một tổ chức kinh
doanh cạnh tranh với tổ chức mà ḿnh đang lănh đạo. Thí dụ
làm tiết lộ các bí mật kinh doanh hoặc nghề nghiệp của tổ chức.
(4)
Thành viên ban lănh đạo dùng các hoạt động của tổ chức để
thăng tiến các quyền lợi cá nhân hoặc nghề nghiệp, ngay cả khi
không có dính dáng đến vấn đề tiền bạc. Chẳng hạn ở Đại Học
Illinois, nhân viên bị cấm dùng các phương tiện, hoặc thời gian
của Đại Học để ủng hộ bất cứ ứng cử viên chính trị nào.
Công khai hóa các xung đột quyền lợi khả dĩ:
Công khai hóa ngay từ lúc đầu các xung đột
quyền lợi có thể xảy ra sẽ giúp tránh t́nh trạng bị xem như
thiếu thành thật nếu sau này xung đột bị phát hiện.
Tổ chức dành quyền quyết định có chấp nhận
thành viên này vào ban lănh đạo hay không. Muốn có hiệu lực,
chính sách công khai hóa cần:
(1)
Xác định một cách rơ ràng hoạt động nào bị xem như là có
xung đột quyền lợi.
(2)
Yêu cầu công khai hóa khi có sự thay đổi, thường được làm
hàng năm.
(3)
Công bố sự công khai hóa xung đột quyền lợi của thành
viên với các thành viên khác trong ban lănh đạo.
Giới hạn quyền hành và hành động là biện pháp thường
được áp dụng.
Muốn có hiệu quả thiết thực, biện pháp cần
quy định chính xác chức năng và quyền hạn của lănh đạo. Đồng
thời một số quyết định quan trọng, nhất là trong lănh vực tài
chính cần được tham gia quyết định của nhiều người. Dĩ nhiên là
phải cân bằng các nhóm có quyền lợi khác nhau (Special Interest
Groups – SIG), không để bất cứ nhóm nào chiếm đa số tuyệt đối.
Miễn tham dự:
Nếu xung đột khả dĩ xảy ra trong quá tŕnh hoạt động của tổ
chức, nhưng không mang tính chất thường xuyên, th́ thành viên có
khả năng có xung đột tự rút lui, hoặc được yêu cầu rút lui khỏi
cuộc họp.
Thành viên này chỉ không tham dự vào quyết định có liên quan
đến xung đột đó mà thôi. Ngoài xung đột này, thành viên vẫn tham
dự vào các hoạt động b́nh thường khác của ban lănh đạo.
Băi nhiệm:
Nếu khả năng xung đột quyền lợi được xem là thường xuyên th́
tổ chức có thể hoán vị thành viên này vào vị trí khác, hoặc yêu
cầu thành viên này bán các cổ phần, hoặc cho thành viên này từ
nhiệm. Ví dụ: một thành viên có nhiều cổ phần trong các công
ty khác đang cạnh tranh với chính công ty mà ḿnh đang phục vụ
trong hội đồng quản trị, th́ cách dễ nhất cho vị này là bán các
cổ phần đó đi để tránh dị nghị về xung đột quyền lợi.
Cấp quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân
Về cơ bản, quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân là
một quan hệ bất b́nh đẳng:
(1)
Có sự chênh lệch về thông tin. Bác sĩ biết nhiều về triệu
chứng bệnh tật cũng như phương pháp điều trị hơn bệnh nhân, do
đó bệnh nhân tùy thuộc vào bác sĩ, nghĩa là đặt niềm tin (trust)
vào bác sĩ.
(2)
Quyền lợi tài chánh của bệnh nhân khác với quyền lợi tài
chánh của bác sĩ. Bệnh nhân muốn trả giá thấp nhất có thể được
cho sự điều trị, trong khi bác sĩ lại muốn tiền thu vào cao nhất
có thể được.
(3)
Bệnh nhân khi có bệnh, nhất là bệnh cấp cứu, bị đau đớn
và không đủ thời gian và điều kiện để so sánh các bác sĩ với
nhau, nên thường bị bắt buộc phải chấp nhận điều trị hiện có.
V́ các điều khác biệt trên nên xung đột
quyền lợi có khả năng xảy ra. Nghĩa vụ luận buộc người thầy
thuốc phải đặt quyền lợi của bệnh nhân lên trên quyền lợi của
chính bản thân ḿnh (xem bài
Y đức và đạo đức học y khoa). Về chính sách, tổ chức thường
yêu cầu các thành viên công khai hóa các xung đột quyền lợi khả
dĩ xảy ra. Mức độ hiệu nghiệm của chính sách này tới đâu th́
không rơ cho lắm.
Có thể kể ra đây một vài thí dụ điển h́nh
về xung đột quyền lợi ở cấp quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân:
(1)
Bác sĩ nhận huê hồng từ công ty dược để kê toa những
thuốc của công ty này, trong khi trên thị trường có thể có các
thuốc khác, tương tự về chức năng mà giá rẻ hơn.
(2)
Bác sĩ sửa một vài tính từ, chẳng hạn như “nặng vừa phải”
(moderately severe) sang “nặng” (severe) để tính tiền chi phí
với bảo hiểm y tế (billing), mặc dù biết chắc rằng từ “nặng vừa
phải” là đúng nhất cho t́nh thế lúc đó. Hiện tượng này được gọi
là “upcoding” trong tiếng Anh, có nghĩa là bệnh nhẹ th́ báo cáo
là bệnh nặng để tính tiền thêm. Để kiểm tra hiện tượng này th́
chỉ có thể làm “chart audit”, một thứ kiểm tra bệnh án, để xem
các dữ kiện lâm sàng có tương ứng với mức độ báo cáo hay không.
(3)
Một hiện tượng nữa trong tiếng Anh gọi là “debundling”,
có nghĩ là đáng lẽ phải tính tiền coi như chỉ một xét nghiệm mà
thôi th́ lại tính tiền cho từng yếu tố. Thí dụ thay v́ tính
tiền cho điện giải đồ như là một xét nghiệm, th́ lại tính tiền
cho Na+, K+, Cl-, v.v… như là
ba bốn xét nghiệm riêng lẻ. Cách đối phó với hiện tượng này là
bảo hiểm y tế quy định rơ ràng trường hợp nào th́ tính trọn gói,
trường hợp nào th́ tính riêng lẻ, nếu không đúng th́ không bồi
hoàn tiền lại.
(4)
Trong chế độ bồi hoàn tiền theo từng dịch vụ (fees for
services-FFS), th́ bác sĩ có khuynh hướng yêu cầu nhiều xét
nghiệm hơn. Hiện tượng này được biết dưới tên “supplier-induced
demand” chỉ v́ bác sĩ mới có quyền yêu cầu xét nghiệm. Bệnh nhân
v́ không đủ kiến thức như bác sĩ nên thường làm theo lời bác sĩ
khuyên. Ngược lại trong chế độ bồi hoàn theo đầu người
(capitation) th́ bác sĩ có khuynh hướng giới hạn các xét nghiệm
khi bệnh nhân thực sự cần xét nghiệm, v́ làm như thế cuối năm
mới dư tiền ra. Hiện tượng này dẫn đến t́nh trạng
“underutilization”, ngược với t́nh trạng trên “overutilization”.
Thực sự không ai biết được mức độ của hai hiện tượng này ra sao.
Về chính sách, tổ chức không nên khen thưởng duy nhất dựa vào
hai hiện tượng này. Thí dụ, không khen thưởng chỉ dựa thuần túy
vào số tiền dôi ra cuối năm, v́ đây có thể là kết quả của
“underutilization”. Ngược lại, tổ chức cũng không khen thưởng
chỉ dựa duy nhất vào số tiền tăng thêm do bác sĩ yêu cầu xét
nghiệm, v́ làm thế sẽ khuyến khích bác sĩ yêu cầu xét nghiệm
nhiều hơn nữa, làm tăng “overutilization”. Các bệnh viện Hoa Kỳ
có các ban gọi là “utilization review committeee” để xem xét vấn
đề này, nhưng kết quả cũng không khả quan lắm.
Cấp quản trị lâm sàng
Có một số vấn đề thuộc về cá nhân thầy
thuốc hoặc nhân viên y tế nhưng có ảnh hưởng đến việc chăm sóc
sức khỏe cho bệnh nhân, gây ra các t́nh huống xung đột quyền
lợi, nghĩa là giữa nghĩa vụ phải chăm sóc bệnh nhân hết ḿnh với
năng lực của thầy thuốc. Có thể thấy vài thí dụ sau đây:
- Sức khỏe của thầy thuốc.
- Sử dụng các thuốc kích thích
- Nghiện rượu
- Ly dị
- Thiếu nợ
- Có con c̣n nhỏ.
Các yếu tố trên ảnh hưởng ít nhiều đến năng
lực hành nghề của thầy thuốc, thể chất hoặc tâm thần. Tổ chức
cần đề ra một số biện pháp linh hoạt, để giúp đỡ thầy thuốc,
tránh làm ảnh hưởng tới sự chăm sóc cho bệnh nhân:
(1)
Điều chỉnh công tác cho thích hợp với sức khỏe của nhân
viên y tế.
(2)
Cho phép nhân viên linh hoạt lịch làm việc để giải quyết
vấn đề giữ trẻ
(3)
Có chương tŕnh phục hồi những thầy thuốc nghiện rượu
hoặc x́ ke, ma túy.
(4)
Có chương tŕnh cố vấn về tài chính, tâm lư cho nhân
viên, hoặc do chính bệnh viện làm, hoặc hợp đồng với một tổ chức
khác.
Kết luận
Xung đột quyền lợi trong y tế là một một
thực tế mà các tổ chức y tế không thể không quan tâm đến. Các
chính sách và biện pháp cần rơ ràng, áp dụng cho mỗi cấp, và cập
nhật. Kêu gọi y đức suông là không đủ. Giáo dục xung đột quyền
lợi trong y tế cần được bắt đầu ở truờng (4) và tiếp tục ở các
cơ sở y tế.
Huỳnh Tấn Tài
Ghi chú
(1)
Ủy Ban Liên Hợp (The Joint Commission) có quy định về
xung đột quyền lợi cho các tổ chức y tế tham gia kiểm định. Sau
đây là tiêu chí cho các cơ sở pḥng khám; bệnh viện cũng tương
tự:
|
Standard RI.1.20
The organization addresses conflicts of interest.
Rationale for RI.1.20
Potential conflicts of interest can arise in subtle
and obvious circumstances. The organization
needs to be aware of potential conflicts of interest
and review relationships with other entities
carefully
to ensure that its mission and responsibility to the
patients and community it serves are not
harmed by any professional, ownership, contractual,
or other relationships.
Elements of Performance for RI.1.20
1. The organization defines what constitutes a
conflict of interest.
2. The organization discloses existing or potential
conflicts of interest for those who provide care,
treatment, and services as well as governance.
3. The organization reviews its relationship and its
staff’s relationships with other care providers,
educational institutions, and payers to ensure that
those relationships are within law and regulation
and determine if conflicts of interest exist.
4. The organization addresses conflicts of interest
when they arise
Comprehensive Accreditation Manual for Ambulatory
Care
CAMAC
Refreshed Core, January 2008 |
(2)
Boyle, PJ, DuBose, ER, Ellingston, SJ, Guinn, DE and
McCurdy, DB: Organizational Ethics in Health Care. Principles,
Cases, and Practical Solutions. Jossey-Bass: San Francisco, CA;
2001.
(3)
AMA: Code of Medical Ethics. Current Opinions with
Annotations. 150th Anniversary Ed. AMA: Chicago, IL;
1997.
(4)
Một thí dụ về chủ đề của Grand Rounds của trường Y/Dược/
BV Đại Học Illinois tại Chicago với một công ty
|
Clinical Ethics Grand Rounds
Wednesday June 4, 2008
12:00 noon – 1:00 pm
Location: Rooms 1130 & 1135 UIH
Topic:
The Influence of the
Pharmaceutical /Technology
Industry on Health Care and Health Care Providers:
Pros / Cons
This program has been approved for
1 hour of OPRS research education credit
At the conclusion of
this session, participants should be able to:
1. Identify
current literature related to pharmaceutical and
technology industry influence on health care
providers related to prescription writing and
education;
2. Review
pharmaceutical / technology industry standards for
ethical behavior and compliance
3. Discuss the role of Industry and research
Guest Speakers:
William Galanter, MD, PhD
Chair, UIMCC Pharmacy & Therapeutics Committee
Medical Director, UIC Physicians Group
Linda Bressler, Pharm.D
UIC College of Pharmacy
Director of Regulatory Affairs, Cancer and Leukemia
Group B
Kristine Rapp,
Vice President, Global Ethics & Compliance
Hospira, Inc. Lake Forest, Illinois
Co-Sponsored by the UIMCC Clinical Ethics Consult
Service and the Center for Professional
Responsibility in Business and Society at the
University of Illinois |
|